Phát triển du lịch tại Quê Lâm, Trung Quốc

Phát triển du lịch tại Quê Lâm, Trung Quốc, Quế Lâm, một trong những điểm du lịch đầu tiên ở Trung Quốc đã đón được khoảng 1 triệu lượt tới tham quan vào năm 2000, tăng 40 % so với năm 1999. Tổng thu nhập từ du lịch của thành phố cả khách quốc tế và nội địa là 0,4 tỷ USD.
Giám đốc cơ quan du lịch thành phố, ông Zhong Xinmin cho biết sở dĩ du lịch Quế Lâm đạt kết quả trên là do trong nhiều năm việc cải tạo xây dựng được tiến hành trên quy mô rộng lớn và vấn đề môi trường ở đây được bảo vệ rất chặt chẽ. Đó cũng là kết quả của những cải tạo trong cách quản lý các hoạt động du lịch và các tour trọn gói.
Quế Lâm được thế giới biết đến là nơi có những phong cảnh trữ tình và sông Li Giang đẹp như tranh vẽ. Từ năm 1999 thành phố đã tập trung cải tạo nâng cấp để biến nơi đây thành một thành phố du lịch. Những con đường được mở rộng, những ngôi nhà cũ kỷ được phá dỡ nhường chỗ cho những căn phòng đủ tiện nghi và 24 chiếc cầu được xây dựng lại.
Cùng với những cố gắng về vấn đề môi trường, một số công viên rộng 72,5 héc ta, điểm khởi hành tới ba tuyến hành trình ngắm cảnh thiên nhiên gồm sông Li Giang và núi Vòi Voi đã được lựa chọn làm vị trí đi lại không mất tiền.
Quế Lâm đã được đầu tư 73 triệu USD vào các đề án bảo vệ sông Li Giang bao gồm việc xây đê, đập, nạo vét sông để tàu bè qua lại được và xây dựng các nhà máy xử lý nước cống. Bên cạnh đó hiện nay 4 cái hồ ở tổng thành phố kết nối với sông Li Giang và sông Hoa Đào đã được nạo vét khôi phục có hiệu quả nguồn nước trong vùng. Thành phố cũng tiến hành cải tạo trên một quy mô rộng lớn điều kiện đi lại trên dông và chất lượng nguồn nước.
Những người điều hành tour đã phát triển mạnh các sản phẩm du lịch để tận dụng từ các sự nâng cấp này. Một tour trọn gói đi trên sông bằng tàu thủy vào ban đêm khởi hành tại Yangdi ngược dòng 40 kmm với Yangdi. Ngoài ra còn có ba tour khác cho khách du lịch lựa chọn là tour đi trên sông Li Giang, tour ngắm cảnh trên các hồ ở trong thành phố và tour ba công viên nước Yangsu Sister Liu.
Cơ quan du lịch thành phố Quế Lâm cũng đang lên kế hoạch phát triển tour du lịch trong gói hai ngày tạo điều kiện cho khách du lịch được chime ngưỡng cảnh mặt trời lặn trên sông Li Giang.
Nhằm tổ chức hợp lý hóa cho có hiệu quả hơn việc quản lý các hoạt động du lịch, thành phố Quế Lâm đã thành lập hai trung tâm, một nơi bán vé, giải quyết gấp các vấn đề liên quan đến tàu bè và các thủ tục thanh toán, một số giải quyết các vấn đề khác liên quan đến các tour ở sông Li Giang. Sự chuyển biến tích cực này nhằm loại trừ tận gốc trong qua khứ có nhiều bộ phận dính líu đến quản lý tour du lịch, kết quả là du khách phải chịu chi phí cao và hiệu quả công việc lại thấp.
Thành phố cũng đã lắp đặt hệ thống thông tin du lịch nhằm kết nơi tất cả các nơi điều hành trong vùng. Ngoài ra hệ thống còn chỉ dẫn bằng điện tử cho các tour du lịch tại sông Li Giang đã được phát triển thành nhiều loại ngôn ngữ khác nhau.
Từ năm 1850 – 1900 thời đại thép – nhôm – động cơ nổ
Năm 1856 – Bétxơme đã cải tiến cách luyện thép bằng phương pháp thổi không khí vào lò luyện khi quặng đang nóng chảy. Trước năm 1856 giá thép trên thị trường rất đắt và người sản xuất thép chỉ sản xuất với một số lượng ít vì sợ không bán được.
Nhờ có Bétxơme mã vào nửa cuối thế kỷ 19, thép được sản xuất đại trà, giá thành rẻ. Thép được sử dụng rộng rãi vào việc xây cầu, làm nhà, làm đường ray xe lửa…
Năm 1890 – Khánh thành chiếc cầu thép lớn đầu tiên trên thế giới. Cầu xây dựng mất 50 nghìn tấn thép tại xứ Êcốtxơ. Sau đó, nhờ có những dây cáp bằng thép, tại nước Anh và các nước khác ở châu u đã xây dựng nhiều cầu treo qua sông.
Năm 1890 – Nhờ có các dầm bằng thép, người ta đã xây được nhiều nhà chọc trời ở các nước phát triển.
Năm 1886 – Trước năm 1886, kim loại nhôm thuộc loại quý hiếm và đắt không kém bạc ngày nay. Thời đó các đồ dùng bằng nhôm: bát dĩa, lọ hoa, chậu rửa, cốc, thìa… thuộc loại hàng và chỉ thấy ở các cung điện vua, chúa hoặc ở các nhà giầu. Vua Napôleôn III rất ưa chuộng các đồ gia dụng bằng nhôm. Vào giữa thế kỷ 19, cách nay 150 năm, một fun nhôm (bằng 453,6 gam) được bán với giá 40 đồng tiền rúp bằng vàng ở Mátxcơva.
Từ năm 1886, công nghiệp luyện nhôm bằng phương pháp điện phân đã làm cho giá thành nhôm hạ đi nhiều lần, khiến kim loại nhôm trở nên thông dụng trong dân gian.
Ở Việt Nam, quặng nhôm có ở nhiều nơi, song nhiều nhất thấy ở Tây Nguyên, ước tính tới 1,2 tỷ tấn. Nếu tính cả loại quặng nhôm lẫn latêrít sắt thì trữ lượng khoảng 6 tỷ tấn.
Công nghiệp luyện kim bằng phương pháp điện phân tốn kém một năng lượng điện rất lớn. Nay mai khi ta xây dựng thêm được nhiều nhà máy thủy điện thì chắc chắn công nghiệp luyện nhôm sẽ phát triển mạnh ở nước ta.
Năm 1860 – Lơnoa phát minh ra động cơ đốt trong. Loại động cơ này có nhiều ưu điểm so với động cơ hơi nước vì không cần phải có nồi xúp-de, không cần phải đốt lò liên tục và tránh được hiện tượng nổ nồi xúp-de rất nguy hiểm.
Năm 1876 – Nicôlai Ốtô chế tạo ra động cơ nổ 4 chu kỳ chạy bằng ét-xăng. Từ loại động cơ này, các nhà khoa học nghĩ ra việc chế tạo ô tô và máy bay.
Năm 1892 – Ruđôn Điezen chế tạo ra động cơ mà ngày nay vẫn mang tên ông. Động cơ dùng nhiên liệu điêzen và có tên gọi là động cơ điêzen.
Hải Yến – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Thiên niên kỷ mới

Du lịch Việt Nam bước vào thiên niên kỷ mới, chương trình hành động quốc gia về Du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000 đã đạt được những kết quả quan trọng: tạo bước chuyển biến và nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp và toàn bộ xã hội về vị trí, vai trò và hiệu quả nhiều mặt của du lịch đã thu hút được sự chú ý của toàn xã hội. Hình ảnh Việt Nam nói chung và du lịch Việt Nam nói riêng được nâng cao trên trường quốc tế, tạo thế và lực cho cho du lịch Việt Nam bước vào đầu thế kỷ 21, đưa Việt Nam trở thành điểm du lịch hấp dẫn của khu vực và thế giới.
Bên cạnh những kết quả khả quan đã đạt được, ngành Du lịch đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn: So với các nước trong khu vực, Du lịch Việt Nam còn đang ở vị trí khiêm tốn, con số trên 2 triệu du khách quốc tế đến Việt Nam năm 2000 mới chỉ đưa nước ta xấp xỉ bằng Philippines và bằng 1/4 của Thái Lan hoặc Singapore về lượng khách quốc tế. Nhìn chung, chất lượng sản phẩm du lịch của nước ta chưa có, loại hình sản phẩm du lịch chưa phong phú, độc đáo. Việc nghiên cứu thị trường, đẩy mạnh xúc tiến du lịch còn nhiều hạn chế, đầu tư ngân sách nhà nước cho phát triển du lịch còn hạn hẹp.
Du lịch được đánh giá là một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, có khả năng phát triển nhanh, có thể sớm rút ngắn được khoảng cách so với các nước trong khu vực, đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Trong Dự thảo Báo cáo Chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010 trình Đại hội Ĩ của Đảng đã xác định Du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, cần được phát triển mạnh với quy mô tốc độ và hiệu quả lớn hơn. Sắp tới nếu được tập trung đầu tư tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực đồng thời kịp thời tháo gỡ những vướng mắc khó khăn , trở ngại về cơ sở chính sách thì chắc chắn ngành du lịch sẽ có bước phát triển cao hơn, đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp Đổi mới của đất nước. Trước mắt, với mục tiêu phấn đấu đón 3,5 triệu – 4,0 triệu khách quốc tế vào năm 2005; 7 – 8 triệu khách quốc tế vào năm 2010, thì riêng ngành du lịch sẽ đem lại nguồn thu khoảng 2,5 – 3 tỷ USD vào năm 2010.
Như vậy, cần thiết và có thể đưa ngành du lịch nước ta tiến nhanh, sớm đuổi kịp các nước có nền du lịch phát triển tiên tiến trong khu vực, thực hiện nhiệm vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra: “ Đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch thương mại – dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực”. Đây là mục tiêu mà toàn ngành du lịch đang quyết tâm phấn đấu thực hiện trong những năm đầu của thể kỷ mới, thiên niên kỷ mới.
Sau chuyến đi Tây
Tác phẩm nổi tiếng ra đời sau chuyến đi Tây… Phạm Phú Thứ sinh năm 1821 nhưng không phải tuổi Tân Tỵ, vì tính theo âm lịch thì đó là ngày 26 tháng Chạp năm Canh Thìn, nghĩa là sau một tuần mới đến mùng Một Tết Tân Tỵ.
Phạm Phú Thứ lúc nhỏ tên là Hào (hào kiệt), đi học lấy tên là Thứ (rộng lượng), khi đỗ đại khoa vua đổi là Thứ (đông đúc), do đó có tên chữ là Giáo Chi (dạy họ( lại lấy danh hiệu là Trúc Đường (nhà tre), biệt hiệu Giá Viên (vườn mía) và hai biệt hiệu khác ít dùng là Thúc Minh (Nhật cái trong sáng), Trúc Ẩn (núp trong tre). Ông thi đỗ tiến sĩ năm 22 tuổi, làm quan tới chức Thượng thư Bộ Hộ, sung Thương chính đại thần.
Giữa năm 1863 ông được cử làm phó sứ, cùng chánh Sứ Phan Thanh Giản và Bồi Sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp và Tây Ban Nha với danh nghĩa ngoại giao kỳ thực là đàm phán đòi 3 tỉnh Nam Kỳ. Chuyến công tác kéo dài tận tháng 3 năm sau (1864) mới quay về nước. Về đến kinh, ông dâng vua bản tây hành nhật ký (nhật ký đi Tây), ghi chép tỉ mỉ những điều mắt thấy tai nghe và cảm nghĩ về nền văn minh cơ khí Phương tây nhằm thuyết phục triều đình mạnh dạn mở cửa thông thương với nước ngoài, đưa đất nước tiến lên cường thịnh. Ngoài ra ông còn dâng vua nhiều tấu mang nội dung cải cách giáo dục kinh tế, quốc phòng, nội chính đối ngoại. Ông còn cho mở một trường học tiếng Pháp ngữ đầu tiên ở nước ta.
Trần Tuyên – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Nỗi khổ của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp

Theo chính sách nam đến tuổi 60, nữ 55 thì đủ tuổi về hưu, áp dụng cho tất cả các cán bộ công chức Nhà nước. Quy định này hợp lý cho hầu hết các ngành nghề. Tuy nhiên, đó lại là bài toán khó đối với các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp trong quá trình trẻ hóa đội ngũ diễn viên.
Với chính sách trên, hầu hết các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp đều gặp khó khăn trong quá trình trẻ hóa đội ngũ diễn viên. Nhất là khi, nhu cầu này đang ngày càng cấp bách. Khi Nhà nước còn chưa có sự chuyển đổi cơ chế, mọi khó khăn chưa nảy sinh. Từ khi các đoàn nghệ thuật phải tự hạch toán kinh phí, tự lo ổn định đời sống cho các diễn viên thì khó khăn đã trở thành thử thách. Bên cạnh đó, thị hiếu của khán giả ngày càng cao, cộng với sự cạnh tranh gay gắt giữa các đoàn nhằm chiếm được cảm tình của đông đảo khán giả, đòi hỏi các đoàn phải bắt kịp với nhu cầu của cuộc sống, đồng thời vẫn giữ được định hướng nghệ thuật của từng đoàn. Vì thế, nhân tố làm nên bước tiến mới là đội ngũ diễn viên và yếu tố diễn viên trẻ đẹp, có tài năng thật sự vô cùng cần thiết. Bởi vì, người diễn viên giống như những cây cầu đưa khán giả đến với nghệ thuật, đến với món ăn tinh thần không thể thiếu. Song, thực tại, đội ngũ diễn viên ở các đoàn như thế nào?
THỰC TRẠNG CHUNG
Trong số hơn 55 thành viên thì chỉ có khoảng 30 thành viên của Đoàn Chèo Hà Nội đi diễn thường xuyên. Người không diễn vẫn hưởng lương theo biên chế. Đó là bất cập lớn. Nguyên nhân là vì độ tuổi 35 trở đi, sức bật diễn xuất của diễn viên giảm sút, không hiệu quả. Đơn thuần, với những nhân vật công chúa, hoàng tử thì tuổi tác đã cản trở, khiến họ không phù hợp để vào vai. Trước đây, một thời nghệ sĩ ưu tú Quốc Chim, Lâm Bằng, Xuân Hanh, Thu Hiền, Lan Anh, Minh Nguyệt đã để lại cho khán giả những ấn tượng sâu sắc trong vai nàng Si-ta, hoàng tử Phơ-Liêm nhưng hiện giờ, họ đều đã ở tuổi ngũ tuần, những vai diễn trẻ không còn tương xứng, cộng với trường độ giọng ca không còn khỏe như trước. Tất nhiên, một vài anh chị vẫn giữ được phong độ nhưng đó là con số hãn hữu. Các vai diễn đào, kép thì không đúng với tài năng của họ. Chính vì vậy, trong những buổi diễn vẫn có người diễn và có người không.
Đoàn dân ca Quan họ có 26 thành viên, đội ngũ trẻ chỉ chiếm 2-3 người. Vào những năm 85, hầu hết những diễn viên tham gia trong các Hội diễn ca múa nhạc toàn quốc, Hội thi các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, Liên hoan kịch hát toàn quốc như Quý Tráng, Hồng Mạnh, Lan Hương, Thúy Cải… đã được nhiều giải cao. Nhưng những năm gần đây nổi bật lên chỉ là một vài diễn viên trẻ như Thúy Hường, Quang Vinh. Với đặc trưng âm điệu vang, rền, nền, nảy, những bài hát dân ca Quan họ đòi hỏi người nghệ sĩ phải có hơi dài và khỏe. Chính vì vậy, diễn viên trẻ thường có điều kiện thành công hơn các lớp người “có tuổi”, dù đó là những người đã từng là tấm gương của họ.
Điều đáng quan tâm nhất của Đoàn là đội ngũ kế cận trong tương lai. Nhưng còn nếu để những anh chị có khả năng biểu diễn thấp nghỉ thì họ vẫn chưa đủ tuổi về hưu. Nếu cho họ tự nguyện xin nghỉ thì rất khó, vì ai cũng sợ mất quyền lợi. Bên cạnh đó, người nghệ sĩ không thể nằm trong tình trạng “vắt chanh bỏ vỏ”. Trong khi đó, số lượng biên chế còn hạn định đòi hỏi diễn viên mới vào thì phải có người ra. Nếu không, nhận các em vào theo hợp đồng để giải quyết khó khăn trước mắt thì Đoàn phải tự bỏ ra kinh phí trong vòng 2-3 năm. Thời gian quá dài, 1 năm khiến cho Đoàn chậm tiến triển, mặt khác khiến các em thấp thỏm chưa yên tâm làm việc, dẫn tới chất lượng biểu diễn không cao.
Các đoàn ca múa nhạc cũng nằm trong tình trạng này. Diễn viên múa đạt trình độ nghệ thuật cao ở độ tuổi 26. Độ tuổi này, người diễn viên có sức dẻo dai nhất, sức khỏe cũng như tuổi trẻ giúp họ thành công nhất. Diễn viên Thu Thảo, 30 tuổi (Đoàn ca múa Hải Quân) đã khẳng định: “Những năm tháng biểu diễn ở mọi miền Tổ quốc, mình nhận thấy tuổi trẻ và sức múa luôn đồng hành, ở tuổi 30 trở đi, sức múa của mình đã xuống…”. Vì thế, nếu Nhà nước vẫn duy trì chính sách chung cho các Đoàn nghệ thuật thì quá trình trẻ hóa rất yếu khó khăn cùng với nhiều bất cập nảy sinh. Các đoàn sẽ giải quyết như thế nào với một loạt người đang nhàn rỗi? Tuy nhiên, ở tuổi 40 chưa đủ để về hưu nhưng ở lại thì hiệu quả diễn của họ không cao. Đồng thời, nghệ thuật sẽ mai một nếu không có những lớp người kế thừa và phát huy. Để giải quyết những bất cập này, đòi hỏi cần phải có chính sách cho phù hợp.
CÓ NÊN CHUNG “KHUÔN”
Quá trình hoạt động của các diễn viên trong những đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp có tính đặc thù, bởi sự đào thải khắt khe. Một diễn viên múa, một ca sĩ… không như một kỹ sư hay một nhà khoa học càng có thâm niên trong nghề càng có khả năng cống hiến sức sáng tạo. Trái lại, các diễn viên, nghệ sĩ biểu diễn thường chỉ thật sự thành công trong thời kỳ son sắt của mình. Nói như vậy, không có nghĩa nghệ thuật chỉ chín mùi khi diễn viên còn trẻ mà nghệ thuật thực sự nở rộ ở thời điểm đó. Trao đổi với ông Trần Đình Luyện, Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Ninh, ông đã nói rất cởi mở: “Các đoàn khó khăn thì Nhà nước cũng có khó khăn. Tuy nhiên, quá trình phân định chính sách về hưu sao cho phù hợp với quá trình hoạt động của các đoàn nghệ thuật nói riêng và lĩnh vực Văn hóa nói chung là thiết thực”. Nhìn chung, để tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn phát triển đồng nghĩa với việc phát huy tốt vai trò xây dựng nền văn hóa nước nhà, thì sự quan tâm cụ thể của Nhà nước đến nhu cầu trẻ hóa, đến những quyền lợi chính đáng của người về hưu là rất quan trọng.
Hoàng Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Phải chăng hài kịch lên ngôi

Trong cuộc sống công nghiệp hối hả chúng ta như bị công việc ngốn hết thời gian nên ít có dịp tìm đến các sàn diễn sân khấu để thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật. Đại bộ phận khán giả bây giờ có nhu cầu được xem những tác phẩm nghệ thuật có dung lượng vừa phải, đan xen trong đó là yếu tố hài để đầu óc để căng thẳng sau những giờ làm việc bận bịu. Bởi vậy, sân khấu Việt nam gần đây thiên dần về xu hướng này. Đôi khi có những vở kịch chính kịch, bi kịch hẳn hoi nhưng người ta vẫn có thể cười, bởi những chi tiết hóm hỉnh được tác giả khéo “cài” vào. Chỉ tính riêng nhà hát Tuổi trẻ, 2 năm 1999 và năm 2000 đã xây dựng 6 chương trình hài(Đời cười, Ngẫm mà cười…). Đạt doanh thu 4 tỷ/ năm (gấp khoảng 5 -6 lần năm trước). Chính điều này khiến nhiều người nghĩ rằng “hài kịch lên ngôi”.
Anh Văn Sử – Trưởng phòng Nghệ thuật, Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa – Thông tin) cho biết: “Nếu cho là là thời gian gần đây, hài kịch lên ngôi là không đúng. Bởi lẽ nhiều vở kịch có chất hài và những tiểu phẩm vui nho nhỏ được các nhà hát, các đoàn nghệ thuật dàn dựng. Thế nhưng đó hoàn toàn không phải là hài kịch…” Qua tìm hiểu tại một số đoàn nghệ thuật, được biết: Đôi khi họ cũng cũng phải “cù cừơi” khan giả, nếu không thì… chẳng có ma nào đến xem. Tỏ quan điểm về vấn đề này, anh Sử cho biết thêm: “Đúng, có một số nhà hát, một số đoàn nghệ thuật cố tình cù cười khán giả nhằm mục đích thương mại, câu khách. Thế nhưng đó chỉ là “giải pháp tình thế của mình”. Một vị lãnh đạo đoàn nghệ thuật nọ bộc bạch: “Trong thời buổi sân khấu vắng khách, một vở kịch nếu được coi là nghệ thuật thì dàn dựng rất tốn kém. Vậy mà không bán được vé thì chỉ có nước… “chết”!. Còn một yếu tố cũng không kém phần quan trọng đó là những vở kịch hoành tráng, đem về vùng sâu, vùng xa không được thân thiện vì vận chuyển sân khấu, phông màn, chiếu sáng… cồng kềnh. Trong khi tiểu phẩm hài xé nhỏ được nhân sự, gọn nhẹ khâu vận chuyển nên có thể “đánh nhanh, rút gọn”.
Quả đúng vậy, đó chỉ nên là “cái tạm thời”, bởi sân khấu muốn tồn tại được không phải dựa vờ những tiểu phẩm vui, những vở kịch ngắn “đầy chất nhộn”, mà phải có những tác phẩm hoành tráng theo đúng nghĩa của nó. Những quan tâm đến nền sân khấu nước nhà chắc hẳn cũng điều nghĩ như vậy. Anh Trương Nhuận – Trưởng phòng biểu diễn, Nhà hát tuổi trẻ cho hay” Mặc dù năm 1999 và năm 2000, đã dàn dựng được nhiều tiểu phẩm vui, dí dỏm, được khán giả thủ đô ưa thích, nhưng sang năm nay, chúng tôi có xu hướng quay về chính kịch”. Giải thích vì sao đang rất ăn khách ở mảng “hài kịch” lại chuyển sang chính kịch, anh cho rằng: “Cái gì ăn mãi cũng chán, nếu diễn mãi mảng hài thì sẽ có nguy cơ… “lệch”. Vả lại, đó chỉ là “chiều” theo thị hiếu khán giả thôi. Tới đây chúng tôi sẽ xây dựng những vở diễn có quy mô hoành tráng.
Vậy là hài kịch mà lâu nay nhiều người vẫn lầm tưởng là đang “lên ngôi” thì thực chất lại là những ngón tiểu xảo của các nhà hát “nhạy bén” với thời “cù” vào nách khán giả, nhằm giúp đơn vị họ tồn tại. Dẫu vậy thì chúng ta cũng hy vọng rằng đó chỉ là phương án tạm thời để giải quyết tình thế trước mắt mà thôi.
Ý nghĩa hình tượng rồng trên kiến trúc đền, chùa lăng tẩm Việt Nam
Trong chuyên mục sổ tay hướng dẫn viên du lịch kỳ này, Báo du lịch xin giới thiệu cùng các bạn đọc ý nghĩa của một trong những con vật thường có trên các công trình kiến trúc đền, chùa, lăng tẩm… Việt Nam. Hình tượng con rồng (Long)
Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lâu đời trong lịch sử. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo của giới nghệ thuật siêu tự nhiên. Cùng với sự phát triển của lịch sử, từ lâu các nước phương đông đã hình thành nên quan niệm phổ biến về con rồng, tổng hợp trong những con vật linh thiêng này là trí tuệ, lý tưởng, nguyện vọng, sức mạnh v.v… Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở các nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội của mỗi nước.
Đối với dân tộc Việt Nam, ngoài nét chung nói trên, rồng còn có ý nghĩa riêng, đó là nó chỉ dân tộc Việt Nam có xuất xứ từ con cháu rồng tiên. Từ câu chuyện huyền thoại Lạc Long Quân những biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh,chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tươi tốt. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, chính vì vậy mà các vua chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy lực triều đình. Thời Lê rồng trở thành bản mệnh của nhà vua. Hình tượng rồng được thêu lên tấm áo vua mặc.
Thời kỳ đất nước bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống v.v…và được cách điệu hóa dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Vào thế kỷ thứ XI, dưới triều Lý, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu được xác lập. Con rồng thật sự của Việt Nam đã được ra đời. Cho đến nay, rồng vẫn được sử dụng trong kiến trúc tôn giáo theo một số nét: Mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trang lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn mỗi người Việt Nam
Minh Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Biết chút ít ngoại ngữ vẫn hơn

Trước đây, có chuyện vui về việc cán bộ của mình học tiếng nước ngoài lại cứ tưởng chỉ cần thêm chữ “lơ” vào trước tiếng Việt là thành tiếng Pháp nên giữa thủ đô Paris tráng lệ, tới nhà hàng, anh ta cứ “lơ cơm”, “lơ canh”… mà gọi. May gặp được “lơ bồi” là Việt kiều nên “hiểu” được, nếu không, chắc bữa đó đói. Chuyện đã cũ, nhưng giá trị giáo dục còn nguyên đến tận bây giờ.
Chính tôi cũng từng chứng kiến cảnh cười ra nước mắt. Ấy là một lần sang Trung Quốc, cả đoàn mười mấy người mà chỉ có một cô hướng dẫn viên. Tới Quảng Châu, cũng là chặn cuối của hành trình được ấn định dành thời gian cho du khách mua sắm đồ. Hướng dẫn viên như con thoi đan qua, đan lại giữa các đám khách đang tản mát ở mấy siêu thị trung tâm. Việc giao dịch, mua sắm đơn giản thì bấm vào chiếc máy tính cầm tay, còn mua đồ đắt tiền thì chờ cô hướng dẫn viên tới để mặc cả. Trên là trời, dưới là hang, thôi thì mặc sức bới, chọn. Thời gian chẳng có nhiều, ai nấy đều bận rộn, căng thẳng cho việc mua sắm. Cho nên cả đoàn quyết định tùy nghi di tản để mua theo ý thích – sau đó đúng giờ G tập trung trước cửa. Tôi còn đang phân vân không biết có nên mua thêm chiếc quần Jean mang về làm quà cho bà xã hay thôi, chợt giật mình vì bị anh bạn giật vai hỏi: “Này, toilet chỗ nào nhỉ?”, “Nặng hay nhẹ?”, “Nhẹ!”. Tôi chỉ bừa về phía cầu thang lên xuống! Ít phút sau, lại vẫn anh bạn ấy trông điệu bộ rất khẩn trương, “Thế giải quyết chưa?” – Tôi hỏi. Anh nhăn nhó lắc đầu, nói trong hơi thở gấp gáp: “Tệ thật, bên này thật khó kiếm ra nhà vệ sinh, họ không dùng ký hiệu như bên mình, trong khi tiếng Tàu lại một chữ bẻ đôi không biết”. Xong, anh lại lao đi. Tôi nhìn theo thật ái ngại, tự hỏi nếu vẫn không tìm thấy chỗ cần “giải quyết” thì chuyện gì sẽ xảy ra?
Xách chiếc túi, tôi lững thững đi ra cửa. Lúc này bên ngoài trời nắng chang chang, người Trung Quốc chờ xe buýt hoặc tránh nắng dạt hết vào mái hiên hay bóng mát của cây xanh. Bỗng tôi giật mình thấy anh bạn tôi mặt mũi đỏ gay, mồ hôi chảy ròng ròng vì nắng đang đứng giữa trời. Lạ cái, anh có vẻ rất ung dung, mồm ngậm điếu thuốc, rung đùi liên tục. “Thằng cha này hết bệnh sợ nắng từ hồi nào vậy?” – Tôi tự hỏi. Thì ra không phải anh thích tắm nắng mà đang… phơi quần. Nghe chuyện anh kể lại thấy thật tội. Khi ở trong siêu thị, anh bạn tôi bí quá đâm liều, đâu cũng xộc vào: Ki ốt khép kín, kho chứa hàng, văn phòng làm việc… Cuối cùng anh cũng tìm ra cái nơi cần giải quyết. Chết nỗi chỉ tìm thấy nơi dành cho phụ nữ. Thôi, kệ! Lúc ấy anh chẳng thể giữ được nữa rồi, may cũng không có ai. Nhẹ cả người, tội cái quá muộn nên… ướt mất bên ống quần, chẳng dám mua sắm nữa mà phải ra ngoài để phơi nắng.
Từ câu chuyện thực tế, chúng ta thấy rằng, trong hành trang du lịch, ngoại ngữ là một trong những hành trang quan trọng nhất. Thứ khác có thể mua bổ sung ngay tại chỗ nhưng ngoại ngữ phải cần có thời gian. Đã đành không ai bỏ vài tháng trời học từ ABC tới nói thông, viết thạo để đi du lịch, nhưng nên chăng, các Công ty lữ hành quốc tế trước khi đưa đoàn đi du lịch nên chuẩn bị sẵn “cẩm nang”, dù chỉ là một trang giấy với hơn chục câu, từ ngữ thông dụng của nước bạn. Tuy học “vẹt”, nói “bồi” nhưng vẫn còn hơn không.
Thúy Bình – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Lễ hội Phồn Xương – Yên Thế

Về với lễ hội Phồn Xương – Yên Thế năm nay, ai cũng cho rằng không khí lễ hội tưng bừng, nhộn nhịp hơn mọi năm.
Thật vậy, từ sáng sớm, hàng vạn người trong vùng, ở các tỉnh, thành đã về với lễ hội, với địa bàn hoạt động của nghĩa quân anh hùng áo vải Hoàng Hoa Thám. Trong tiếng trống hào hùng vang dội, dòng người như hà cùng âm hưởng hào khí của một thời lịch sử. Ngọn lửa truyền thống như đỏ rực minh chứng cho tinh thần bất khuất, sức mạnh dũng mãnh của nghĩa quân Yên Thế, minh chứng cho niềm tự hào về truyền thống đánh giặc của nhân dân Yên Thế.
Các hoạt động văn hóa, thể thao như: Lửa trại truyền thống, chọi gà, cờ tướng, cờ người, bắn cung, nỏ, thi đấu bóng đá diễn ra. Đặc biệt giải võ, vật thu hút các võ sĩ các đô vật của nhiều tỉnh về đua tài đọ sức với các chàng trai Cầu Vồng.
Lễ hội Phồn Xương, Yên Thế biểu trưng cho khí phách của một dân tộc anh hùng, khơi dậy tinh thần giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc ta, những phong tục tập quán tốt đẹp của cha ông ta mà ngày xưa chính vị thủ lĩnh Đề Thám đã khẳng định trước thực dân Pháp: “Chúng tôi gắn bó với phong tục của đất nước chúng tôi, chúng tôi không bao giờ từ bỏ phong tục ấy, dù có phải huy sinh đến cả tính mạng”.
Quảng Nam: Mở hội nghị bàn biện pháp thúc đẩy tuyên truyền quảng bá ngành du lịch.
Sáng ngày 21/3/2001, tại thị xã Hội An, UBND tỉnh Quảng Nam phối hợp với hãng hàng không quốc gia Việt Nam tổ chức hội nghị bàn biện pháp thúc đẩy tuyên truyền, quảng bá cho du lịch Quảng Nam và miền Trung. Đại diện ngành du lịch và các doanh nghiệp du lịch tiêu biểu của các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế tham dự. Theo đó, Hãng hàn không quốc gia Việt Nam sẽ là nhà tài trợ chính để tổ chức cuộc gặp gỡ của đại diện 150 hãng lữ hành quốc tế và 50 nhà báo quốc tế tại Hội An nhân đêm phố cổ Rằm tháng 7 âm lịch (tức ngày 1/9/2001). Đoàn còn tham gia một số hoạt động của Đêm phố cổ, tham quan các di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn, Cố Đô Huế, xem biểu diễn ca nhạc truyền thống của các dân tộc chăm, ca nhạc cung đình Huế… qua đó, giới thiệu với các hãng lữ hành, các nhà báo quốc tế về hinhg ảnh của du lịch Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế… và đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền quảng bá du lịch miền Trung ra nước ngoài, thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đến vùng này.
Triển lãm ảnh “Vương quốc Anh – Ánh sáng – Cuộc sống – Tình yêu”
Từ ngày 26/3/2001, văn phòng Hội đồng Anh tại Hà Nội sẽ tổ chức triển lãm ảnh với tiêu đề “Vương quốc Anh – Ánh sáng – Cuộc sống – Tình yêu”, qua ống kính của ba nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam: Nguyễn Vinh Quang, Phạm Tiến Dũng và Vũ Đức Tân. Triển lãm gồm 40 tác phẩm, phản ánh những giây phút nghỉ ngơi giải trí trong đời sống của người dân tại các thành phố London, Oxford, Bath và Cambridge của Vương quốc Anh. Đó là những buổi chiều thư giãn trong công viên bên bạn bè, các cuộc dạo chơi cùng gia đình, không khí nhộn nhịp trên đường phố…
Trienr lãm kéo dài 4 tuần tại 40 phố Cát Linh, Hà Nội.
Khu du lịch Bà Nà hấ dẫn doanh nghiệp
Khu du lịch Bà Nà (thành phố Đà Nẵng) ngày càng thu hút khách du lịch. Đến nay đã có nhiều doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân đăng ký mua đất để xây dựng các cơ sở kinh doanh. Dịch vụ khách sạn, nhà nghỉ của cư Công ty Du lịch – Dịch vụ Đà Nẵng, ác doanh nghiệp này đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu càu lưu trú, sinh hoạt của du khách.
Cười một tý
Một đấu vàng… Ngày xửa ngày xưa có mọt hôn dung Hoàng đế, oogn ta cho tuyên bố trước toàn quốc: “Nếu ai có thể một câu chuyện hết sức hoang đường, khiến trẫm phải nói đó là nói bậy, thì trẫm sẽ chia cho một nữa giang sơn của trẫm”.
Có một nông dan thông minh, nách kẹp một cái đấu đi vào hoàng cung.
Hoàng đế hỏi ông: “Nhà ngươi mang đấu đến để làm gì?”
Người nông dan nói: “Bệ hạ nợ tôi một cái đấu vàng, nay tôi đến bệ hạ để đòi số vàng ấy.”
Hoàng đế nghe vậy thì giật mình, nói: “Một đấu vàng? Nó bậy! Ta nợ một đấu vàng bao giờ?”
Người nông dân nói: “Tất nhiên là nói bậy, vậy xin bệ hạ chia một nữa giang sơn cho tôi vậy.”
Hoàng đế nghe nói vậy, mới hiểu ra là người nông dân này đã có dụng ý như vậy, liền nói chệch đi là, đó không phải là nói bậy. Lúc đó, người nông dân nói nghiêm túc: “Nếu không phải là nói bậy, thì xin bệ hạ phải trả tôi một đấu vàng đi!”
Không còn cách nào khác, Hoàng đế không thể chia nữa giang sơn cho người nông dân, nên đnàh phải cắn răng trả cho người nông dân một đấu vàng.
Ở phòng nào.
3 giờ sáng. Điện thoại phòng khách sạn đổ hồi. Một giọng giận dữ vang lên:
Này, ông phải làm sáo để con mụ chửi chồng ở lầu 4 im lặng chứ?
Vâng! Chúng tôi sẽ cố. Nhưng bà ta ở phòng nào ạ?
Chung phòng với tôi
Hoàng Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Chùa Túy Vân – Một danh thắng bị bỏ quên.

Chùa Thúy Vân tọa lạc trên trên một hòn núi nhỏ cùng tên nằm cạnh cửa Tư Hiền, được chúa Nguyễn Phúc Tần cho xây dựng vào thế kỷ thứ XVII, lúc đó có tên là Mỹ Am Sơn. Năm 1826, vua minh mạng cho xây dựng lại và đổi tên là chùa Túy Ba. Năm Minh Mạng thứ 17 (1837) chùa được trùng tu và dựng thêm lầu. năm 1841, vua Thiệu Trị cho trùng tu và đổi tên là Túy Vân là danh thắng được người xưa đánh giá rất cao: “Linh Thai, Túy Vân hệ thị quốc gia chi thắng cảnh” (Linh Thia, Túy Vân đều là thắng cảnh của quốc gia). Với bề dày lịch sử và phong cảnh thiên nhiên thơ mộng, chùa Túy Vân xứng đáng là một thắng cảnh của chồn Thần Kinh, là tài nguyên vô tận của ngành du lịch Thừa Thiên – Huế. ấy thế mà khi ai đã có dịp trở lại thăm chùa lại không khỏi bùi ngùi nuối tiếc cho một thắng cảnh và cũng là nơi cầu phúc đã bị phá hội bởi thời gian và những con người vô ý thức đến độ không tả nổi. Chùa chĩnh nằm ở lưng chừng núi, mái núi bị sụp đổ sơ xác, phần gỗ bị hư hỏng nặng, rất nguy hiểm. Trên đỉnh núi 3 ngôi tháp 3 tầng có tên là Điếu Ngư phải chịu làm bia cho những lữ khách muốn để lại dấu ấn của mình bằng cách viết, vẽ lên án thờ phật tổ. Con đường từ chân núi lên đến tháp Điếu Ngư có đủ các loại túi nilon rải khắp hai bên.
Tôi ra về lòng buồn khôn tả, tiếc cho một danh thắng bị bỏ quên. Không hiểu chính quyền địa phương, sở Văn hóa – Thông tin, Sở du lịch Thừa Thiên Huế đã nghĩ gì khi tồn tại thực trạng như hiện nay. Đã đến lúc ngành chức năng cần giải pháp tích cực để chùa Túy Vân vẫn mãi xứng đáng là danh thắng nổi tiếng, làm đẹp thêm nét văn hóa độc đáo của chốn Thần Kinh, góp phần vào sự phát triển của ngành du lịch Thừa Thiên Huế.
Quảng Nam: Phấn đấu đạt 50 tỷ đồng về du lịch.
Năm 200 Quảng Nam đón 243.000 khách tham quan trong đó có 122.649 lượt khách lưu trú, tăng 32,2% so với năm 1999. doanh thu chuyên ngành đạt 43,5 tỷ đồng, tăng 55% so với cùng kỳ năm trước
Từ kết quả đó, năm 2001 Du khách Quảng Nam phấn đấu đón hơn 300.000 khách tham quan và 140.000 khách luu trú doanh thu chuyên ngành đạt 50 tỷ đồng, trong đó khách du lịch quốc tế 105.000 lượt tăng 10,5% so với năm 2000. để đạt được mục tiêu của ngành Du lịch Quảng Nam có kế hoạch đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá, xây dựng các tuyến điểm du lịch mới, khôi phục các làng nghề truyền thống như làng mộc Kim Bồng, chiếu Bàn Thạch; Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, hoàn thiết các khu du lịch biển Cửa Đại, Victoria Beach Resort… Trước mắt đầu tư phát triển khu du lịch hồ Phú Ninh và bãi tắm Tam Thanh nhằm thu hút lượng khách đến ngày càng đông hơn. Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã ban hành một số chính sách ưu đãi, đầu tư để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực du lịch.
Nhận dạng các loại tiền giả trên thị trường.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam cho biết, hiện nay trên thị trường đang xuất hiện một số loại tiền giả (chủ yếu là loại tiền 20.000 và 50.000đ) có kỹ thuật in tương đối tin vi, thoạt nhìn rất giống tiền thật. Sau đây là một số đặc điểm nhận dạng các loại tiền này.
Tiền giả được sản xuất bằng giấy có màu gần giống như giấy in tiền thật. hình bong chiềm chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh ở bên trái (mặt trước, phần để trống trắng) được vẽ (hoặc in) bằng loại hoá chất màu sáng vào phần giữa hai lớp giấy hoặc in trên lớp giấy hoăc in trên giấy Pôlyme rồi đặt giữa hai lớp giấy, khi đua lên soi trước nguồn sáng thấy lờ mờ không rõ nét.
Được in bằng phương pháp in offset nên hình ảnh chung của loại tiền này bị mờ nhạt và không có độ nổi cao của mực in. Khu vực chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh (ở bên phải, mặt trước của tờ tiền) không chỉ thể hiện đầy đủ các chi tiết , mất rất nhiều nét nhất ở vùng râu, tóc và trán làm cho ảnh Bác Hồ bị mờ nhạt, thiếu nét hoặc không rõ nét như tiền thật.
Mặt trước: cụm số, chữ và hàng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở tiền giả không có gờ nổi. trong khi đó, ở tiền thật cụm số và chữ nổi nên có thể cảm nhận được khi vuốt nhẹ bằng tay ở các cụm chữ số.
Ở tiền giả, khu vực quốc huy, mặt trước các nét in nhỏ, mảnh bị dính, chập không cách đều nhau, nhất là vùng chân đế Quốc huy như ở tiền thật.
Hồ Phước Khánh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176) 2001

Quyết tâm và sáng tạo – bí quyết ở một đơn vị anh hùng – Phần 2

Điều này đã tạo nên sức mạnh, nâng cao năng lực để đơn vị đủ sức cạnh tranh và bứt phá, chiếm lĩnh thị trường. Từ chỗ chỉ có 44 phòng nghỉ đã xuống cấp hơn 10 năm trước, nay Công ty đã có hệ thống cơ sở kinh doanh hoàn chỉnh: ngoài 11 đơn vị thành viên với 170 phòng, Công ty còn có khách sạn Hương Giang 3 sao, 135 phòng cùng 3 chi nhánh trong nước và 3 văn phòng đại diện ở Anh, Đức, Mêhicô. Nhìn rõ thực lực và xu hướng phát triển của Công ty, các nước Nhật, Pháp và Áo đã xúc tiến những dự án liên doanh với đơn vị. Năm 2000, Công ty Du lịch Hương Giang còn là đối tác liên doanh với Tổng Công ty Du lịch thành phố Hồ Chí Minh trong quy mô dự án gần 100 tỷ đồng.
Với mục tiêu ngày càng thu hút du khách, Công ty mạnh dạn khai thác tiềm năng, xây dựng các loại hình dịch vụ du lịch mới: Khu dịch vụ nước khoáng nóng Mỹ An, khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng Bạch Mã. Đầu năm 2001 vừa qua, với sự có mặt của Phó Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch Nguyễn Phú Đức, Công ty đã khai trương khu du lịch Lăng Cô, đem đến cho khách du lịch 1 điểm hẹn lý tưởng và hấp dẫn.
Công tác tuyên truyền, quảng bá được Công ty Du lịch Hương Giang hết sức chú ý thông qua việc tham dự các hội chợ du lịch trong và ngoài nước, đồng thời tăng cường mở rộng mạng lưới hoạt động lữ hành. Điều được Công ty đặc biệt quan tâm là nâng cao chất lượng đội ngũ lao động bởi đây là yếu tố quan trọng cho mọi thắng lợi. Hơn 10 năm qua, công tác đào tạo được tiến hành thường xuyên nên trong số 400 cán bộ công nhân viên của Công ty, nhiều người có chuyên môn nghiệp vụ đạt trình độ chuyên gia, 27% tổng số có trình độ đại học.. Thành tích 10 năm liên tục là Đảng bộ trong sạch vững mạnh đã chứng tỏ công tác xây dựng Đảng ở đây có chất lượng ra sao.
Bước qua gian nan, thử thách bằng quyết tâm lớn và sức sáng tạo tuyệt vời, Công ty đã được ánh sáng của thành công chiếu rọi: 10 năm qua, nhịp độ tăng trưởng ở Công ty đáng khích lệ: tổng vốn kinh doanh tăng bình quân 70,38% mỗi năm; doanh thu giữ tốc độ tăng bình quân 47,4%/năm; lợi nhuận cũng tăng hàng năm 50%, nộp ngân sách tăng 52,3%/năm. Riêng năm 2000, Công ty đạt 70 tỷ vốn kinh doanh, 37 tỷ doanh thu và 3 tỷ lợi nhuận cùng số nộp ngân sách là 4 tỷ đồng. Những năm qua, ngoài số lượt khách quốc tế luôn chiếm đa số, Công ty còn luôn được đón và phục vụ các đoàn lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước. Rõ ràng, uy tín của Công ty là điều không thể phủ nhận. Những tấm Huân chương lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; các cờ thi đua, Bằng khen của Chính phủ và các Bộ, ngành trao tặng là minh chứng hùng hồn về sự phát triển toàn diện của Công ty. Hiện nay, Công ty Du lịch Hương Giang đang là thành viên của Hiệp hội Du lịch Châu Á – Thái Bình Dương; Hiệp hội các nhà lữ hành Mỹ và Hiệp hội các nhà lữ hành Nhật Bản.
25 năm qua chưa phải là nhiều nếu so với chiều dài lịch sử dân tộc, nhưng cũng đã để khẳng định nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Công ty Du lịch Hương Giang. Từ những gì đã đạt được, chúng ta hoàn toàn có quyền hy vọng vào sự thành công của đơn vị ngay trong những năm đầu của thiên niên kỷ thứ ba, để góp phần đáng kể vào việc “đưa Thừa Thiên Huế thành một trung tâm du lịch tầm cỡ của đất nước” như mong muốn của đồng chí Nguyễn Phú Đức tại lễ khai trương Khu du lịch Lăng Cô.
Ngô Thanh Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001

Quyết tâm và sáng tạo – bí quyết ở một đơn vị anh hùng – Phần 1

Mang tên dòng sông thơ mộng của vùng đất cố đô Huế, 25 năm qua, kể từ ngày thành lập, Công ty Du lịch Hương Giang đã không ngừng vươn lên, tự khẳng định mình, xứng đáng với tên gọi đã được nhiều người biết đến. Để rồi, trong hành trang bước vào thế kỷ 21,Công ty đã mang theo những dấu ấn đầy tự hào: Giải bạc (1996), giải vàng (1999) của Giải thưởng chất lượng cao Việt Nam do Hội đồng chất lượng quốc gia trao. Năm 1999, Công ty còn được công nhận và được trao Cúp là 1 trong 10 khách sạn hàng đầu của cả nước. Đặc biệt, năm 2000, Công ty lại là đơn vị duy nhất của ngành Du lịch đón nhận danh hiệu cao quý “Anh hùng lao động” do Chủ tịch nước phong tặng, về thành tích xuất sắc trong thời kỳ đổi mới.
Hơn 10 năm trước, Công ty từng đứng trước thách thức của thời kỳ chuyển đổi cơ chế: qui mô nhỏ bé, cơ sở vật chất lạc hậu, lực lượng lao động không đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng. Trong khi đó, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch có lợi thế về qui mô, vốn, càng khiến Công ty hết sức khó khăn. Nhưng hoàn cảnh chỉ càng tôi luyện thêm quyết tâm và sự đoàn kết của lãnh đạo và cán bộ công nhân viên trong Công ty. Mỗi thành viên đều đặt lợi ích chung lên trên, cùng lao động, học tập nâng cao nghiệp vụ và sáng tạo trong mọi lĩnh vực, buộc gian nan phải lùi bước trước sự nỗ lực của toàn Công ty.
Việc khảo sát thị trường, nghiên cứu tâm lý du khách đã giúp Công ty có hướng nhìn mới trong khai thác thế mạnh của vùng đất kinh kỳ – di sản văn hóa thế giới – vào hoạt động du lịch. Các giá trị văn hóa dân tộc, văn hóa Huế, văn hóa cung đình Huế được coi trọng; Từ kiến trúc tổng thể đến trang trí nội thất đều theo kiến trúc cung đình Huế và truyền thống Huế. Chính sự tiếp nối truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương lại trở thành thế mạnh của Công ty Du lịch Hương Giang với những sản phẩm du lịch độc đáo: cơm vua, ca Huế, dịch vụ thuyền rồng, ca múa cung đình, nghệ thuật ẩm thực Huế. Nét đặc sắc Huế không đâu pha trộn đã làm nên niềm say mê cho du khách, khiến họ hiểu và yêu Huế hơn. Đó cũng là đòn bẩy để Công ty vững vàng trong sự cạnh tranh trên thương trường. Chỉ riêng sản phẩm cơm vua đã mang lại cho đơn vị hàng tỷ đồng doanh thu từ sự ủng hộ của du khách trong và ngoài nước. Sự tăng trưởng mạnh mẽ của Công ty có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết công ăn việc làm ổn định cho hơn 400 cán bộ công nhân viên với mức thu nhập bình quân gần 800.000 đồng/tháng/người. Với việc khơi nguồn truyền thống văn hóa, Công ty Du lịch Hương Giang còn góp phần gìn giữ văn hóa dân gian từng có thời bị lãng quên, đồng thời, tạo điều kiện phát huy tài năng trong phục vụ du khách.
Không dừng ở đó, Công ty Du lịch Hương Giang hiểu rõ vai trò quan trọng của vấn đề nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, từ quá trình nghiên cứu nhu cầu và hướng phát triển của thị trường.
Ngô Thanh Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001

Cần nhìn lại chương trình dạy thể dục

Thời gian vừa qua dư luận cả nước xôn xao về việc em Tạ Thái Bội Ngọc – học sinh lớp 6 P2, Trường Trung học cơ sở Giảng Võ, Hà Nội bị tử vong trong giờ học thể dục. Kể từ năm 1999 đến nay, đây là trường hợp thứ hai bị tử vong trong khi đang học môn này. Qua những vụ việc này, vấn đề đặt ra là phải nhìn thẳng thắng nhìn lại việc dạy môn thể dục trong nhà trường.
Xuất phát từ ý tưởng xây dựng một nền giáo dục toàn diện nên việc dạy và học môn thể dục được đưa vào các trường học như một môn học bắt đầu. Môn thể dục liên quan chặt chẽ đến cơ chế sinh học và thể trạng của học sinh. Theo quy định của Bộ giáo dục – Đào tạo, học sinh phải học hai tiết thể dục vào thời điểm nào trong ngày. Điều này dẫn đến các trường tự ý sắp xếp môn học vào những thời điểm khác nhau. Có nhiều trường hợp đã xếp môn thể dục vào những tiết cuối cùng của buổi học – đây là thời điểm mà học sinh mệt mỏi khi vận động cơ thể với cường độ cao, độ gắng sức lớn nên rất dễ làm cho các em bị choáng, bị ngất, trong khi đang học. Qua điều tra chúng tôi được biết, hiện nay chưa có chính sách giáo khoa về môn thể dục mà chỉ có sách hướng dẫn giáo viên môn này. Vì thế giáo viên có thể tự điều chỉnh liều lượng học môn học. nhưng giáo viên thò làm sao hiểu được thể lực của học sinh mà phân chia môn học cho hợp lý bởi hiện nay, các trường hầu như không khám sức khoẻ định kỳ cho học sinh. Nếu có cũng thường là qua quýt. Vì thế xảy ra tình trạng ở rất nhiều trường, chương trình thể dục không thích hợp đối với các em. Xem hai cuốn sách giáo án môn thể dục lớp 7 ở hai trường khác nhau tôi thấy: Trường MT – một trường vùng nông thôn của tỉnh HT học sinh nữ chạy 400m, nam chạy 600m, còn ở Trường VA của thành phố Hà Nội: nữ 500m, nam 600m. nhìn vào đã thấy ngay sự bất cập: cùng khối học mag các em phải học những chương trình khác nhau. Hơn nữa, ở cùng độ tuổi nhưng với các em học sinh ở nông thôn và miền núi chạy 400 – 600m có thể là phù hợp, còn vói học sinh thành phố, thị xã, quãng đường đó có khi trở nên quá sức: Thế mà, đây lại còn phải chạy dài hơn!
Khi tiếp xúc, phần lớn các em điều tâm sự: Đây là môn bắt buộc có điểm tổng kết và vì muốn đạt học sinh giỏi, học sinh tiên tiến nên các em phải cố gắng hết sức mình. Điều này cũng là nguyên nhân gây ra những hậu quả khó lường.
Các chết của em Tạ Thái Bội Ngọc là tiếng chuông cảnh báo đối với công tác quản lý của các cơ quan chức nâng mà Bộ Giáo dục – Đào tạo là cơ quan chủ quản. Chương trình dạy thể dục cho các cấp học phổ thông hiện nay liệu đã phù hợp? Đó là câu hỏi mà nhiều bậc phụ huynh rất băn khoăn, thắc mắc. Để tránh xảy ra các trường hợp đâu lòng tương tự, nhà trường cần thường xuyên khám sức khỏe định kỳ cho các em học sinh và thông báo tình trạng sức khỏe đến giáo viên và phụ huynh. Đồng thời, Bộ Giáo dục – Đào tạo cần có biện pháp, quy định chặt chẽ về chương trình học với từng lứa tuổi học sinh, để môn học thực sự có lợi đối với sức khỏe, thể chất của học sinh, chứ không phải là “lợi bất cập hại” như đã từng xảy ra.
Phú Thọ: Công an cũng bị cướp.
Đêm 3/3/2001, anh Đỗ Mạnh Hùng – cán bộ công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đi xe máy đến 23 km quốc lộ 70 (thuộc xã Nằng Luân, huyện Đoan Hùng) bị một đối tượng xịt hơi cay vào mặt rồi dùng dao đánh vào đầu anh Hùng ngất xỉu. đối tượng cướp đi 1 xe máy, 1 súng ngắn K59, 8 viên đạn và một số tài sản cá nhân. 7 giờ ngày 4/3, người ta phát hiện chiếc xe máy của anh Hùng ven đường thị trấn Đoan Hùng và một đôi giày thể thao. Hiện công an địa phương đang điều tra làm rõ vụ việc.
Thu Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 10(175)2001