Đắk Lắk “doanh thu từ du lịch tăng 21%”

Sáu tháng qua, tỉnh Đắk lắk đã đón gần 40.000 lượt khách du lịch, đạt doanh thu trên 17,6 tỷ đồng, bằng 55% kế hoạch năm và tăng 21% so với cùng kỳ năm ngoái.
Công ty du lịch tỉnh đã đầu tư hàng trăm triệu đồng nâng cấp cơ sở hạ tầng ở khu du lịch thác Trinh Nữ. Công ty Du lịch Ban Mê ngoài việc đầu tư nâng cấp khu du lịch Buôn Đôn, còn phối hợp với các cấp chính quyền địa phương thành lập thêm các đội cồng chiêng, dệt thổ cẩm, du lịch bằng cưỡi voi đi dọc theo dòng sông Sêrêpốc… đã thu hút đông đảo khách tham quan.
Các đơn vị kinh doanh du lịch trong tỉnh đã thực hiện các dự án quy hoạch phát triển các điểm du lịch sinh thái, cụm du lịch nhằm thu hút thêm nhiều khách du lịch đến với Đắk Lắk.
Cần Thơ: Doanh thu du lịch đạt cao
Từ đầu năm đến nay, tỉnh Cần Thơ đón 130.000 khách đến du lịch, tăng 21,5% so cùng kỳ năm trước; trong đó có 37.000 khách quốc tế (tăng 28,5%); tổng doanh thu ngành du lịch đạt 50 ty đồng, tăng 35% so với cùng kỳ, cao nhất từ trước đến nay.
Tỉnh đầu tư hàng chục tỷ đồng hoàn thiện hệ thống nhà nghỉ, khách sạn, các khu vườn du lịch sinh thái, trang bị thêm hàng chục phương tiện gồm xe, tàu, ca nô… đưa đón khách. Đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên phục vụ được đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề. Tỉnh cũng phối hợp với một số tỉnh bạn tổ chức các tuyến du lịch sông nước, tham quan chợ nổi Cái Răng… được khách nước ngoài đánh giá cao.
Tỉnh Cần Thơ đang xúc tiến nhiều dự án khả thi nhằm nâng cao cơ sở hạ tầng, quy hoạch xây dựng thêm một số khu du lịch sinh thái có quy mô lớn tại thành phố Cần Thơ và huyện Phụng Hiệp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài nước.
Hải Phòng: Lượng khách Trung Quốc tăng 100%
Tính từ đầu năm đến nay có gần 7 vạn lượt khách du lịch Trung Quốc đến tham quan, tăng 100% so với cùng kỳ năm 2000. Trong thời gian qua, ngành du lịch Hải Phòng đã có nhiều cố gắng trong việc nâng cấp, xây mới nhiều khách sạn, nâng cao chất lượng phục vụ để kịp thời đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch.
Vừa qua, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng Trần Huy Năng đã ký quyết định phê duyệt 2 dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch tại Cát Bà. Đó là dự án xây dựng đường du lịch Gia Luận – Vườn Quốc gia – Thị trấn Cát Bà và dự án xử lý nước thải, khu Tùng Dinh với tổng vốn đầu tư cho hai dự án là 108 tỷ đồng.
Lễ gắn sao cho khách sạn Sông Nhuệ
Sáng 11/7, Sở Du lịch Hà Tây đã làm lễ gắn sao cho khách sạn Sông Nhuệ. Đến dự có đại diện Tổng cục Du lịch Việt Nam và nhiều cán bộ lãnh đạo của tỉnh.
Đây là khách sạn lớn nhất của tỉnh Hà Tây, nằm ở vị trí trung tâm thị xã Hà Đông.Hiện khách sạn có 62 phòng với 160 giường, trong đó có 28 phòng loại A để phục vụ khách nước ngoài. Mặc dù mới hoạt được mới 18 tháng như khách sạn đã đón được 130.000 lượt khách. Công suất hoạt động của nhà hàng đạt trên 70%, doanh thu đạt 6 tỷ đồng. Trước khi đón nhận danh hiệu 2 sao, khách sạn đã tổ chức nhiều lớp nâng cao chuyên môn nghiệp vụ: bàn, buồng, lễ tân; cử cán bộ đi học lớp nâng cao quản lý nghiệp vụ, mở lớp học tiếng Anh, tiếng Trung cho cán bộ, nhân viên toàn khách sạn. Tại buổi lễ, ông Lại Hồng Khánh – Giám đốc Sở Du lịch Hà Tây đã công bố quyết định công nhận đạt tiêu chuẩn 2 sao cho khách sạn.
Trong thời gian tới, nhằm thu hút khách hơn nữa, khách sạn sẽ tiếp tục kiện toàn cơ cấu tổ chức, thành lập các bộ phận chức năng nghiệp vụ, mở rộng kinh doanh với các đối tác trong và ngoài tỉnh, làm thủ tục visa để đón khách nước ngoài, mở nhiều tuyến du lịch trong và ngoài tỉnh, đa dạng hóa sản phẩm của các làng nghề truyền thống trong tỉnh.
Lê Hiệp – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(181)2001

Một kiểu kinh doanh kỳ quặc – Phần 2

Kể từ khi luật doanh nghiệp, Luật Khoáng sản và luật Khuyến khích đầu tư trong nước được ban hành, thị trường sản xuất kinh doanh cũng chuyển động và mang tĩnh cạnh tranh gay gắt nên các đối tác có hợp đồng kinh tế với Công ty Khoáng sản BR – VT càng ngày càng khó khăn. Giá thành sản phẩm bị đội lên, trong khi thị trường bị thu hẹp lại dẫn đến thua lỗ nên các đối tác đã nhiều lần làm đơn gửi đến Công ty Khoáng sản BR – VT và các cơ quan chức năng nhờ can thiệp và điều chỉnh hợp đồng cho phù hợp với tình hình mới nhưng Công ty Khoáng sản BR – VT vẫn làm ngơ và không hiểu vì sao đã 2 năm trôi qua vụ việc vẫn chưa được giải quyết dứt điểm?
Đến những uẩn khúc chưa được làm sáng tỏ…
Trước tính chất phức tạp của vấn đề, thời gian qua cơ sở Công nghiệp BR – VT, UBND tỉnh BR – VT, Ban kinh tế Tỉnh ủy BR – VT đã có nhiều cuộc họp nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa Công ty Khoáng sản BR – VT và các đối tác nhưng đều vô hiệu. Sự vô hiệu này cũng bắt nguồn từ nhiều lý do, trong đó lý do chính yếu là mối quan hệ giữa Công ty Khoáng sản BR – VT và các đối tác cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của chính công ty Khoáng sản còn nhiều uẩn khúc và những uẩn khúc này đã vô tình được các cơ quan chức năng lãng quên. Ông Phạm Hữu Vũ, Phó giám đốc Sở công nghiệp BR – VT cho biết: “Công ty Khoáng sản BR – VT đã quá bội tín với các khách hàng” Dẫn chứng mà Ông Vũ đưa ra đều phản ứng đúng như tình hình kêu cứu của các đối tác. Lấy vụ Công ty TNHH Đức Hạnh làm ví dụ. Công ty này hợp đồng với Công ty Khoáng sản BR – VT khai thác mỏ puzolan này cho Công ty liên doanh xi măng Sao Mai tư cách pháp nhân trong hợp đồng là công ty Khoáng sản BR – VT, nhưng thực chất là Công ty TNHH Đức Hạnh cung cấp nguyên liệu. Khi các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh việc các loại xe tải chở quá tải làm ảnh hưởng đến tuổi thọ cầu đường và gây ra tai nạn thì Công ty TNHH Đức Hạnh cũng gặp khó khăn về tiến độ giao hàng cho Công ty liên doanh xi măng Sao Mai. Là đơn vị kinh doanh giấy phép, đáng lẽ phải tìm mọi cách giúp đỡ Công ty TNHH Đức Hạnh và cùng bàn bạc tháo gỡ khó khăn nhưng do sợ phải giành trách nhiệm công ty Khoáng sản BR – VT đã gây sự hiểu lầm của doanh nghiệp liên doanh xi măng Sao Mai với Công ty TNHH Đức Hạnh ra khỏi hợp đồng cung cấp Puzolan dài hạn cho công ty liên doanh xi măng Sao Mai. Đồng thời với quá trình trên, Công ty Khoáng sản BR – VT lại cầm giữ hồ sơ đền bù giải tỏa, khai thác puzolan của Công ty TNHH Minh Tiến ở mỏ Núi Thơm, Công ty này đã đầu tư 121.330.143 đồng cho công tác khảo sát địa chất, lập dự án, luận chứng khai thác mỏ và các chi phí khác và âm thầm bỏ vốn đầu tư khai thác Puzolan núi Thơm cung cấp cho Công ty liên doanh xi măng Sao Mai thế chỗ mỏ núi đất. Ông Phạm Hữu Vũ, phó giám đốc Sở Công nghiệp BR – VT cho biết: “Hiện nay tổng số tiền mà Công ty Khoáng sản BR – VT đã đầu tư cho mỏ Núi Thơm ước tính khoảng 3,5 tỷ đồng. Nhưng điều kỳ lạ là nguồn vốn này được đầu tư vào đây khá nhanh và không rõ xuất xứ”. Đây là uẩn khúc mà 7 doanh nghiệp kinh doanh khai thác mỏ ở BR – VT mong muốn các ngành chức năng điều tra và làm rõ. Liệu có phe cánh nào âm thầm bỏ vốn đầu tư nhằm trục lợi cho tiến trình cổ phần hóa Công ty Khoáng sản BR – VT sau này.
Bùi Hoàng Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Một kiểu kinh doanh kỳ quặc – Phần 1

Trong thời gian qua, 7 doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh có đầu tư khai thác mỏ ở Bà Rịa – Vũng Tàu (BR – VT) đã đồng loạt làm đơn gửi tới cơ quan chức năng từ địa phương đến trung ương kêu cứu về tình trạng công ty khoáng sản Bà Rịa – Vũng Tàu gây áp lực đối với sản xuất kinh doanh của họ trên đất khách. Hành vi tố cáo doanh nghiệp này ra sao? Đâu là thực chất của vấn đề? Đó là điều mà các ngành chức năng cần làm sáng tỏ trên dư luận.
Từ những lá đơn kêu cứu…
Sau 5 năm sản xuất kinh doanh, trong đó có hai năm thua lỗ nặng nề và đứng trên bờ vực phá sản, 7 doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh  đầu tư khai thác khoáng sản ở BR – VT đã liên tục viết đơn kiến nghị và kêu cứu tập thể về tình trạng công ty Khoáng sản Bà Rịa – Vũng Tàu chèn ép và gây áp lực đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Các doanh nghiệp này bao gồm: Công ty TNHH Lương Cơ 504/14 Bến Bình Đông, phường 13, quận 8, Công ty TNHH Hồng Long, 80 Cộng Hòa, Phường 4, Tân Bình, Công ty TNHH Minh Tiến 224 Phạm Văn Hân, quận Bình Thạnh, Công ty TNHH Vân Thành, 11 Lê Văn Sỹ, phường 13, quận 3 và công ty TNHH Đức Hạnh, quận 4. Theo như đơn kêu cứu của họ thù Công ty Khoáng sản Bà Rịa – Vũng Tàu đã lợi dụng quyền quản lý mỏ của mình đã gây áp lực với hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà thầu: ém nhẹm các chính sách ưu đãi đầu tư để trục lợi bất chính, có nhiều mờ ám xung quanh việc thu chi phần vốn mà các doanh nghiệp đã đầu tư kinh doanh khai thác mỏ, khống chế, phá vỡ các hợp đồng kinh tế và đẩy các công ty vào thế phá sản.
Có hay không sự chèn ép của Công ty khoáng sản BR – VT đối với các doanh nghiệp trên và mối quan hệ giữa các doanh nghiệp này đối với công ty khoáng sản BR – VT như thế nào? Qua điều tra tìm hiểu chúng tôi cho rằng những bức xúc mà các doanh nghiệp này kêu cứu là có thực và đang rất cần sự can thiệp nhanh của các Bộ, ngành chức năng. Trở lại về vấn đề chính: Công ty khoáng sản BR – VT được UBND tỉnh BR – VT cấp giấy phép thành lập số 05/QĐ – UBT ngày 24/4/1993 và có giấy phép kinh doanh số 103780 do trọng tài kinh tế tỉnh BR – VT cấp ngày 6/5/1993. Thời gian đầu thành lập, giám đốc Công ty Khoáng sản BR – VT là ông Nguyễn Xuân Hồng nhưng người kế vị sau ông Hồng cho đến ngày nay là ông Nguyễn Như Nguyên. Trong thời gian qua, Công ty khoáng sản BR – VT lần lượt được Bộ Công nghiệp cấp giấy phép khai thác 3 mỏ đá xây dựng và 2 mỏ đá Puzolan. Ba mơ đá xây dựng được cấp giấy phép gồm: Mỏ đá Long Hương hợp đồng kinh tế với Công ty Tnhh Ninh Tiến, Công ty TNHH hỒNG Long, và doanh nghiệp tư nhân Phú Sơn; Mỏ đá Châu Pha hợp đồng kinh tế với 3 Công ty TNHH: Vân Thành, Lương Cơ, Lợi Nguyễn và 1 tư nhân là ông Nguyễn Văn Lào; Mỏ đá lô 3 Châu Pha hợp đồng kinh tế với Công ty xây dựng Miền Đông. Riêng 2 mỏ đá Puzolan Núi Đất và Puzolan Núi Thơm, Công ty Khoáng sản BR – VT đã hợp đồng khai thác với Công ty TNHH Đức Hạnh và Minh Tiến. Theo các hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa Công ty Khoáng sản BR – VT và các đối tác trên thì với tư cách pháp nhân là chủ giấy phép kinh doanh khai thác mỏ, Công ty Khoáng sản BR – VT chịu trách nhiệm về thủ tục pháp lý trong khai thác, quản lý kỹ thuật khai thác, nổ mìn theo quy định, theo dõi sản xuất, xuất hóa đơn bán hàng và nộp thuế cho nhà nước. Các đối tượng tham gia đầu tư toàn bộ từ chi phí thăm dò địa chất, lập thủ tục cấp mỏ, chi phí đền bù giải tỏa, xây dựng cơ bản, vốn đầu tư máy móc thiết bị và vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tùy theo vị trí mỏ và các loại sản phẩm mà các đối tác trích 10 -17% trên tổng doanh thu trong đó tính cả thuế các đối tác nộp cho địa phương. Như vậy, trên thực tế Công ty Khoáng Sản BR – VT là một đơn vị kinh doanh cấp giấy phép khai thác mỏ do Bộ Công nghiệp cấp. Hợp đồng kinh tế là như vậy nhưng công ty lại không chịu nổ mìn theo yêu cầu của các đối tác, tính thêm tiền trích nộp trong các công đoạn quản lý, ém nhẹm các giấy phép ưu đãi đầu tư cũng như các giấy tờ liên quan đến khoản tiền ưu đãi từ các đối tác với tư cách pháp nhân là chủ mỏ và hoàn toàn không phải bỏ vốn mà vẫn thoải mái ngồi mát ăn bát vàng theo các hợp đồng kinh tế cứng nhắc đã được ký kết từ trước.
Bùi Hoàng Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Tour ngắn ngày

Đối với Cán bộ công nhân viên và học sinh, sinh viên của các đô thị, hai ngày nghỉ cuối tuần là cơ hội để nghỉ ngơi, thư giãn. Nhưng thực tế hiện nay lại hình thành trong họ một câu hỏi: thời gian đó nghỉ đâu, chơi đâu?
Đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí của du khách trong những ngày nghỉ cuối tuần, các công ty du lịch ở Hà Nội đã ra sức hình thành các tour trọn gói theo thời gian 2 ngày 1 đêm, 3 ngày 2 đêm… thực tế, các tour ngắn ngày này đáp ứng thuận tiện cho các công sở, trường học trong những dịp lễ, hội. Tuy nhiên, theo chị Nguyễn Thị Bích Nga, công tác tại phòng thị trường nội địa của công ty du lịch Việt Nam tại Hà Nội thì: “Lượng khách trong thành phố đi du lịch chưa đạt mức khả quan như mong đợi”. Và đây cũng là nhận định chung của hầu hết các công ty du lịch trong thành phố.
Thực tế, những tour trọn gói từ 1 đến 2 ngày thường thu hút khoảng 20 người trở lên và đáp ứng khá đầy đủ những nhu cầu sinh hoạt ăn uống, địa điểm nghỉ ngơi của du khách ngoại trừ du khách ở thành phố. Bởi vì, đa phần khách thành phố có tâm lý thích đi nghỉ ngơi cùng gia đình hay ít nhất một người bạn thân. Họ không thích đi ghép theo đoàn để độc lập hơn, tự lựa chọn điểm giải trí và sử dụng thời gian tùy thích. Chị Lê Phương Tâm ở Hoàng Hoa Thám, Hà Nội nói rằng: “Gia đình mình cách đây hai tuần lại đi nghỉ mát 1 lần, song bọn mình thường đi tự túc, ít khi mình đi theo tour tổ chức. Đơn giản là đi theo tour thường không đặt ý muốn của mình lên hàng đầu mà phải theo tập thể”. Rõ ràng, nếu bạn đi du lịch cùng đoàn có ý nghĩa là bạn sẽ tuân thủ theo những quy định ăn, ngủ của các chương trình đã định. Trường hợp bạn không muốn ngủ chung phòng với ai thì ngoài tiền trả tiền chung. Bên cạnh đó du khách, du khách không có thời gian ngẫu hứng riêng, tất cả đều phải nhất quán khi nào đến và khi nào về. Chị Bạch Kim Liên, thôn Trung, Cầu Giấy còn nói: “Có lần đi thăm Tam Đảo, tôi muốn ghé thăm Thác Bạc lâu hơn thì đã bị giục đi theo đoàn ngay”. Những chuyến đi tập thể thật sự không hấp dẫn nữa. Còn tạo tour riêng cho gia đình mình thì phải chi phí rất cao. Một chuyến đi Hà Nội – Tam Đảo, theo tour trọn gói gồm 4 người/ một gia đình, chi phí hơn 430.000 đồng/ người, trong khi đó với 20 người thì chỉ mất gần 200.000 đồng/ người là do phục vụ khá.
Ngoài ra, hiện nay du khách ở thành phố nhận thấy địa điểm du lịch, cách lập tour ở công ty là như nhau, nhàm chán. Trong khi hầu hết Cán bộ công nhân viên đều thích dành ngày chủ nhật ở nhà để khỏi hấp tấp trước ngày đi làm thì các công ty dịch vụ du lịch lại chú trọng xây dựng những tour sử dụng tối đa cả 2 ngày như: Hà Nội – Tam Đảo, Hà Nội – Hạ Long… Tour 2 ngày đã vậy, tour một ngày cũng mới chỉ là tour du lịch đến các di tích lịch sử, các làng nghề trong thành phố. Thực tế là, theo tour 2 ngày, du khách chưa cảm thấy thỏa mãn được xả hơi, ngắm nhìn cảnh quan và hương vị nơi mình đến thì tour một ngày lại ít điểm đến, sản phẩm đơn điệu, thừa thời gian. Bạn Nguyễn Thị Khánh, sinh viên năm thứ 2, Trường trung học nghiệp vụ du lịch nói rằng: “Bọn mình có lần đi thăm tất cả các điểm di tích của thành phố Hà Nội mà chỉ vèo mấy tiếng đồng hồ là xong. Anh hướng dẫn viên đoàn mình còn nói vui, thừa thời gian chúng ta xuống đâu đó tán gẫu đi”. Theo chị Ngà ở Phan Đình Phùng, Hà Nội thì: “Công việc của chị tương đối bận rộn nên rất thích có một chuyến nghỉ ngơi, vui chơi tại nhưng khu vui chơi ở tại thành phố. Hiện giờ, những khu vui chơi ở Hà Nội chưa thật sự hấp dẫn nên cũng khó liệu cách nghỉ ngơi thế nào”.
Nhìn chung, theo các du khách thì nội dung tour còn nghèo nàn, chưa phục vụ sát với nhu cầu và ước muốn của họ. Để xây dựng được những tour ngắn ngày thật hấp dẫn, mới lạ và giá cả phù hợp với từng đối tượng, các công ty du lịch cũng nên đi vào thực tế và cũng nên tính đến các ý kiến đóng góp của du khách.
An toàn giao thông cho mọi người quy định về người tham gia giao thông.
Người điều khiển xe thô sơ phải thông hiểu những quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị. Cá nhân, tổ chức sử dụng xe thô sơ xe bò, xe trâu, xe ngựa, xe xích lô…kinh doanh vận tải phải có giấy phép hành nghề do cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành Giao thông vận tải đường bộ cấp.
Người điều khiển xe máy có dung tích xi lanh 50 cm3 phải có giấy chứng nhận học tập LLGT do ngành Giao thông vận tải cấp.
Người điều khiển xe máy trên 50 cm3 và các loại xe cơ giới khác phải có bằng lái xe theo quy định hiện hành.
Người dưới 16 tuổi không được điều khiển các loại xe cơ giới.
Nghiêm cấm điều khiển các loại xe trong các trường hợp sau đây:
Do tình trạng sức khỏe không tự chủ điều khiển được tốc độ xe.
Người lái xe đang điều khiển xe trên đường mà trong máu có nồng độ cồn, rượu, bia vượt quá 80mmg/100ml máu hoặc 40mmg/lít khí thở và các chất kích thích khác.
Không có đủ các giấy tờ theo quy định như:
Giấy chứng nhận đăng ký xe.
Giấy phép lái xe nếu điều khiển xe theo quy định phải có giấy phép lái xe.
Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường nếu loại xe yêu cầu phải có.
Trường hợp bị mất hoặc làm hư hỏng giấy phép lái xe mà có đủ chứng cứ bị mất, bị hư hỏng, không bị tước, không bị tạm giữ sẽ được xét cấp lại.
(điều 28, 29, 30 Điều lệ TTAT – GT đường bộ và đô thị, bàn hnàh kèm theo NĐ36/CP của Chính phủ).
Hoàng Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Hoàng đế cuối cùng và những cuộc hôn nhân của mình

Năm 1921, khi Phổ Nghi – vị vua cuối cùng của triều Thanh bước vào tuổi 15 thì 4 vị Thái hậu (2 vợ của vua Đồng Trị, 2 vợ của vua Quang Tự) yêu cầu Phổ Nghi phải tính chuyện gia thất. Đây là vấn đề được cả hoàng cung quan tâm nên các Thái hậu và các hoàng thân đã có nhiều cuộc họp bàn kỹ lưỡng.
Nhưng, giữa các Thái hậu lại không có sự thống nhất trong lựa chọn “cô dâu”. Bà nào cũng muốn Phổ Nghi phải lấy người mà mình tiến cử. Cuối cùng, hoàng gia nhất trí cho Phổ Nghi được “toàn quyền”bằng cách “tuyển” qua các tấm ảnh. Việc đại sự đó sau này được Phổ Nghi nhớ lại trong cuốn hồi ký “Làm Hoàng đế rồi lại làm dân”: Đối với tôi, cô nào cũng như cô nấy. Gương mặt các cô trong ảnh nhỏ quá nên tôi không biết các cô có đẹp không. Tôi chỉ có thể so sánh các kiểu xiêm áo… Tôi lơ đễnh khoanh một vòng vào một bức ảnh đẹp”.
Tiếc thay, người mà Phổ Nghi chọn lại là Ôn Tú, thuộc dòng Mãn Châu. Nàng cũng là nhân vật được Thanh Di Thái hậu tiến cử. Vì thế, Thuận Khang Thái hậu phản ứng kiên quyết. Bà cho rằng, Ôn Tú là con nhà nghèo, lại xấu xí, trong khi Vương Dung (người được bà chọn cho Phổ Nghi) là con gái một gia đình giàu có, xinh xắn, bằng tuổi Phổ Nghi, còn Ôn Tú mới có 12 (kém Hoàng thượng 3 tuổi). Thế là, mặc dù là chuyện đời mình, nhưng để chiều ý Thuận Khang, Phổ Nghi lại khoanh một vòng quanh tấm ảnh Vương Dung. Chẳng ngờ việc làm đó dẫn đến sự tranh cãi kịch liệt của các Thái hậu. Hoàng gia lại chụm đầu bàn bạc, phân tích rồi đưa ra giải pháp nhằm dung hòa sự mâu thuẫn giữa các Thái hậu tối thượng: Ngoài Vương Dung, Phổ Nghi còn phải cưới Ôn Tú làm thiếp!
Nhưng khi đó, hôn lễ chưa tiến hành ngay vì sự bàn luận của các Thái hậu khá gay gắt. Hơn nữa, mẹ đẻ của Phổ Nghi vừa mới mất (bà tự sát do bị Thái hậu Thuận Khang gọi vào cung quở mắng khi Thái hậu bị Phổ Nghi cãi lời). Hai năm sau, đám cưới mới được tổ chức long trọng với những nghi thức truyền thống vô cùng cầu kỳ của Hoàng gia.
Sau hôn lễ, đúng ra theo tục lệ, vua và hoàng hậu sẽ ngủ qua đêm tại phòng hoa chúc tại Khôn Ninh cung. Nhưng sau khi làm lễ uống rượu, ăn bánh hạnh phúc, cô dâu đã sẵn ngồi trên giường. Khẽ cúi đầu chờ đợi thì bất ngờ Hoàng đế Phổ Nghi lại cảm thấy chán cái không khí đại lễ này nên bỏ về hoàng cung. Thế là, sự bất ổn trong tâm thế của vị vua đã khiến cho cả Hoàng hậu Vương Dung lẫn thứ phi Ôn Tú cùng bơ vơ một mình trong đêm tân hôn.
Năm 1931, khi triều đình Mãn Thanh đang lưu vong ở Thiên Tân – thành phố phía bắc Trung Quốc, thì Ôn Tú đột nhiên xin ly dị. Nguyên do, một phần vì Phổ Nghi mà sau này ông đã thú nhận: “Tôi không biết tình yêu là gì và trong hôn nhân, vợ chồng bình đẳng ở chỗ nào. Đối với tôi, vợ và hầu thiếp đều là nô lệ và công cụ của vua mà thôi”.
Ôn Tú không bao giờ nhận được sự quan tâm như đối với người vợ thực thụ từ Phổ Nghi. Đã thế, nàng lại bị Hoàng hậu Vương Dung chèn ép mọi bề khiến nàng hiểu rằng, chỉ có rời bỏ hoàng cung, nàng mới được yên ổn. (Sau này, Ôn Tú trở thành giáo viên tiểu học và không lấy chồng nữa. Năm 1950, nàng qua đời).
Sau khi Vương Dung đuổi Ôn Tú đi, Phổ Nghi càng hờ hững với Hoàng hậu. Vì thế, Vương Dung đã yêu Lý Thiên Vũ – tài xế của Phổ Nghi ở Mãn Châu và có 1 đứa con nhưng bị người Nhật giết ngay sau khi sinh. Chán ngán cuộc sống lưu vong cùng với sự xa lánh của Phổ Nghi, Vương Dung đã chọn thuốc phiện làm bạn. Vì thế, sức khỏe của Hoàng hậu ngày càng suy giảm rồi bà qua đời năm 1946.
Như để trừng phạt Vương Dung vì đã đuổi Ôn Tú, năm 1937, Phổ Nghi đã cưới một cô học trò 16 tuổi làm hầu thiếp thứ 2. Đó là Ngọc Tuế. Nàng thông minh, đọc nhiều sách và có vẻ tâm đầu ý hợp với Phổ Nghi. Năm 1942, Ngọc Tuế chết một cách bí ẩn. (Về sau, tại tòa án tội phạm chiến tranh châu Á ở Tokyo, Phổ Nghi đã buộc tội người Nhật gây ra cái chết oan uổng cho nàng).
Ít lâu sau, Phổ Nghi lại cưới Ngọc Cầm khi đó mới 15 tuổi làm thứ phi. Năm 1950, Phổ Nghi bị chính quyền Trung Quốc bắt giữ thì đến năm 1958, Ngọc Cầm đã đòi ly dị Phổ Nghi khi ông đang trong tù. Điều này khiến vị hoàng đế cảm thấy bị xúc phạm dù chính ông đã bỏ rơi bà ở Talizou năm 1945. Vì thế, Phổ Nghi đã từ chối không gặp bà khi ông được di chuyển nơi giam giữ đến Trương Trung – địa phương bà đang làm việc.
Rời khỏi trại cải tạo sau hơn 10 năm bị bắt giữ, vị hoàng đế cuối cùng triều Thanh đã được Hội đồng tư vấn chính trị nhân dân Trung Quốc và Ủy ban Mặt trận Thống nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức cho đám cưới với cô Lý Tú Hưởng – một điều dưỡng viên ở Hàng Châu vào 1/5/1962.
Ngô Thanh Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(181)2001

Phát triển du lịch thật sự

Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trả lời phỏng vấn báo du lịch: Chúng ta cần phải phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Phóng viên: Thưa tổng Bí thư, trong dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 của Ban chấp hành Trung ương xây dựng để trình Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng có nhấn mạnh cần phải phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Xin tổng bí thư nói với độc giả rõ hơn về vấn đề này?
Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng. Những năm gần đây Đảng và Nhà Nước đã có nhiều chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy du lịch phát triển. Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII đã ra Chỉ thị 46 – CT/ TW (ngày 14/ 10/ 1994) về “Lãnh đạo đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới”. Gần đây, ngày 11/ 11/1998 Bộ Chính trị ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã thảo luận và nhất trí với kết luận một số định hướng lớn phát triển du lịch trong tình hình mới. Thực hiện các chủ trương trên Nhà nước đã ban hành pháp lệnh Du lịch, thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch, xây dựng nhiều kế hoạch hành động thiết thực. Nhờ vậy trong những năm qua, ngành Du lịch Việt Nam đã có bước phát triển nhanh chóng, góp phần tích cực vào quá trình đổi mới kinh tế.
Mục tiêu lớn nhất về chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước ta trong 10 năm đầu của thế kỷ XXI là đẩy mnahj công nghiệp hóa, hiện đại hóa, theo quy định theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng về mọi mặt để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để thực hiện thành công chiến lược này, ngành Du lịch với một số ngành dịch vụ có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc thúc đẩy tăng cường tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.
Vì thế, chúng ta cần phải phát triển Du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Phóng viên: Để ngành du lịch xứng đáng với vị trí mới này, xin Tổng Bí thư cho biết ngành Du lịch cần phải làm gì?
Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: Trước hết, cần giữ mức tăng trưởng tổng doanh thu của ngành trong giai đoạn này từ 9 – 10%/ năm thông qua nâng cao chất lượng và hiệu quả du lịch trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử. Cần liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động du lịch nhằm tạo động lực tổng hợp thúc đẩy du lịch phát triển. Phát triển và đa dạng hóa các loại hình và các điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Chúng ta cần xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, đẩy mạnh hợp tác liên kết với các nước trong hoạt động du lịch.
Phóng viên: Xin cảm ơn Tổng Bí thư.
Du lịch
Tích cực tham gia các hội chợ và các sự kiện du lịch quốc tế. Tổ chức phát động thị trường du lịch ở các thị trường mới và giàu tiềm năng. Tăng cường mối quan hệ giữa lữ hành và khách sạn… Các trung tâm lữ hành sẽ ưu tiên đưa khách đến các khách sạn có chất lượng phục vụ tốt, giá cả phải chăng. Các khách sạn cần nâng cấp, nâng cao chất lượng phục vụ, hiệu quả quản lý để có sản phẩm du lịch chất lượng cao. Các hoạt động lữ hành phải gắn với các loại hình vận tải chuyển khách; đường không, đường sắt, đường thủy và các khu vui chơi giải trí, tạo thành hệ thống sản phẩm du lịch chất lượng cao, hấp dẫn.
Coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lữ hành\, đội ngũ hướng dẫn viên để đảm bảo chất lượng phục vụ khách du lịch các chương trình du lịch. Cải tiến các thủ tục ra vào của khách hơn nữa, tạo thuận lợi cho khách, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động lữ hành.
Tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và các nước. Tiến hành nối mạng Internet, nâng cao chất lượng quản lý, phục vụ khách.
Ngăn chặn hiện tượng lợi dụng danh nghĩa chỉ làm visa cho người nước ngoài núp bóng, làm điều phối viên và các hoạt động không lành mạnh khác…
Hoạt động kinh doanh lữ hành sẽ có bước phát triển mới, góp phần cùng toàn ngành phấn đấu năm 2001 đạt mục tiêu đón 2,2 triệu lượt khách quốc tế, để Ngành du lịch xứng đáng là ngành kinh tế tổng hợp, kinh tế mũi nhọn của đất nước, để trong vòng vài năm tới du lịch Việt Nam tiến kịp các nước tiên tiến về du lịch trong khu vực, để Việt Nam là Điểm đến của thiên niên kỷ mới.
Du lịch trên kênh đào Erie
Vào đầu thế kỷ 19, kênh đào là một trong những phương tiện giao thông quan trọng của hành khách lẫn hàng hóa và cũng tạo cho du lịch đường thủy phát triển.
Kênh đào Erie là kênh đào nổi tiếng nhất nước Mỹ, được khởi công vào năm 1817. Sau 8 năm lao động vất vả của hàng trăm công nhân, kênh được hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 1825. Kênh Erie chạy suốt từ sông Hudson ở Albany (New York) đến hồ Erie ở Buffalo dài 363 dặm (khoảng 584 km).
Đi du lịch bằng thuyền trên kênh Erie rất thú vị nhưng cũng có những bất tiệ, đó là phần lớn các cầu trên kênh đào đều thấp, do đó khi đi qua các cầu trên kênh đào hành khách phải nằm bẹp xuống hoặc chịu nguy cơ bị quét khỏi tàu. Mặc dù có những bất tiện trên, nhưng kênh đào Erie hàng năm vẫn thu hút được nhiều khách du lịch đến tham quan.
Hoàng Long – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Châu Khê cần một hướng đi bền vững

Ngôi làng cổ Châu Khê thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bắc Giang , Hải Dương nằm dọc tả ngạn sông Cửu An đã gần một ngàn năm. Châu Khê ngày nay đang giữ cho mình một hình ảnh một ngôi làng cổ Bắc Bộ yên bình với những nếp nhà ngói xinh xắn ẩn mình trong vườn cây xanh mướt. Trong khung cảnh làng quê trù phú ấy, có một Châu Khê nổi tiếng với nghề kim hoàn đang cần có hướng phát triển bền vững.
Châu Khê bước vào nghề vàng bạc năm 1461, khi vua Lê Thánh Tông giao cho Thượng thư bộ lại Lưu Xuân Tín là người làng Châu Khê giữ trọng trách đúc bạn nén làm tiền tệ cho kinh thành Thăng Long. Trải qua bao năm biến động thăng trầm, làng kim hoàn Châu Khê đã quay về nghề cổ truyền khi đất nước thực hiện chính sách mở cửa. Những tinh hoa của nghề chế tác vàng bạc một lần nữa được nâng niu bởi những đôi bàn tay khéo léo, kiên trì, cần mẫn của người thợ làng Châu. Ngày nay, đời sống xã hội nhìn chung đang được nâng cao nên tay nghề vàng bạc Châu Khê có cơ hội phát triển. Những hộ gia đình có tay nghề cao, tìm được nhiều nguồn tiêu thụ sản phẩm sẽ có thu nhập trung bình khoảng 1,5 triệu đồng/tháng và cuộc sống khá ổn định.
Tuy cuộc sống nhân dân ở đây hiện tại tương đối khá giả nhưng làng nghề kim hoàn Châu Khê đang một định hướng phát triển lâu dài. Hiện tại, người dân nơi đây chưa bằng lòng với mức thu nhập nhờ nghề kim hoàn. Do đó, nhiều hộ gia đình khi tích lũy đủ vốn thường vươn ra các thành phố thị xã… mở tiệm vàng, vừa sản xuất vừa kinh doanh với thu nhập khoảng 60 – 60 triệu đồng mỗi năm. Đồng thời, không ít thợ kim hoàn của làng ra Hà Nội làm thuê ở các tiệm vàng để có thu nhập cao hơn. Những hộ ở lại làng chủ yếu gia công chế tác rất thấp. ông Lê Văn Vui, một thợ thủ công ở làng cho biết: “Tiền công chế tác giờ đây ngày càng thấp thì số lượng thợ đông. Trước kia, tiền cồn đánh một sợi dây chuyền bạc là 5.000 đồng, nay giảm xuống còn 2.000 đồng. hiện tại ở làng ít chế tác vàng vì tiền vốn lớn và khi đem ra buôn bán dễ mất mát”. Như vậy, Châu Khê muốn phát triển bền vững thì phải giải quyết không ít khó khăn mà trước mắt là tìm nguồn vốn, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm để khuyến khích thợ thủ công gắn bó với làng nghề. Ông Phạm Minh Tiến, chủ nhiệm dự án “Phát triển mỹ nghệ kim hoàn Thúc Kháng” cho biết: “Chúng tôi đang đề nghị UBND tỉnh xem xét chuyển dịch khoảng 6.000 – 10.000 m2 đất nông nghiệp để xây dựng phố làng ở ngách làng cổ. Khi đó, phố làng nghề Châu Khê sẽ đá ứng được mọi nhu cầu mỹ nghệ kim hoàn của khách hàng, giúp thợ thủ công yên tâm sản xuất ngay tại làng nghề, nâng cao thu nhập của thợ và đem lại nguồn thu nhập cho địa phương”.
Những cố gắng của nhân dân làng nghề Châu Khê trong việc phát triển ngành nghề truyền thống có rất nhiều ý nghĩa, không chỉ dừng lại ở việc sản xuất ra bao nhiêu sản phẩm, bao nhiêu tiền mã đã giải quyết nhiều vấn đề xã hội như việc làm, chuyển dịch cơ cấu nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời tạo ra tour du lịch giới tinh hoa văn hóa làng nghề Việt Nam nói chung và làng nghề Châu Khê nói riêng. Tại Hội nghị Phát triển ngành nghề nông thôn ác tỉnh phía Bắc tổ chức tại Hà Nội vừa qua, Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn đã đưa ra 10 vấn đề đòi hỏi các ngành liên quan đến phát triển ngành nghề nông thôn cùng phối hợp thực hiện cho tốt. Theo đó, làng nghề Châu Khê cần được quan tâm của sở Thương mại – Du lịch và Sở Văn hóa Thông tin Hải Dương để tháo gỡ những vấn đề: tín dụng, quy hoạch đất cho phố làng nghề, thông tin để tiếp cận với thị trường trong và ngoài nước, đưa công nghệ mới vào các làng nghề thủ công, góp phần cải tạo, bảo vệ môi trường cho làng nghề. Nếu sớm được đầu tư phát triển, làng nghề Châu Khê sẽ có những bước tiến vững chắc và chắc chắn trở thành một sản phẩm du lịch mới của ngành du lịch.
An Giang: Tổ chức chương trình tham gia tour Núi Cấm.
Khu du lịch Lâm Viên Núi Cấm An Giang tổ chức chương trình tham gia tour Núi Cấm với tour 1 ngày và tour 2 ngày 1 đêm. Theo đó, ở tour một ngày du khách sẽ được leo núi và tham quan các điểm Vồ Thiên Tuế, suối Thanh Long, Giếng Nước, thao trường vua Gia Long, đền thờ Võ Đế, Vồ Đầu, Vồ Ông Bướm, Vồ Trăm Họ, Điện 13 tầng, Hang Ông Thẻ, Bát Tiên, chùa Vạn Linh, điện Huỳnh Long. Ở tour 2 ngày 1 đêm có thêm tuyến điểm Điện Bồ Hong, Điện Tam Thanh, Điện Râu Tần. Chương trình tham quan tour Núi Cấm trọn gói hoặc từng phần theo yêu cầu của du khách, có hướng dẫn viên và các dịch vụ khác: Cắm trại dã ngoại về đêm, đặt phòng, các món ăn đặc sản vùng Bảy Núi. Theo Ban Giám đốc khu du lịch Lâm Viên Núi Cấm thì vào mùa cao điểm năm nay, các khách sạn, nhà nghỉ vẫn giữ mức giá như ngày thường.
Quảng bá du lịch nước ngoài gặ nhiều trở ngại.
Hiện nay để khách nước ngoài vào viết bài, chụp ảnh, làm thêm quảng bá cho du lịch Việt Nam còn rườm rà, chi phí tốn kém. Đồng thời, nhiều địa phương thu phí quay phim, chụp ảnh tại điểm du lịch rất cao khiến khách bị ức chế, các ấn tượng tốt về chuyến đi.
Quỳnh Hoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Cần có cơ chế để du lịch cùng bảo tồn di tích

“Văn hóa là nguyên nhân nội sinh của Du lịch”. Hà Nội là địa phương điển hình của cả nước về sự phong phú tiềm năng Du lịch dựa trên những giá trị Văn hóa. Vậy sự phối hợp giữa hai ngành Du lịch và Văn hóa ra sao và làm thế nào tăng cường mối quan hệ đó vì sự phát triển của hai phía. Ông Nguyễn Viết Chức – Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin Hà Nội cho biết:
Hai ngành Văn hóa, Du lịch của Hà Nội có sự phối hợp rất chặt chẽ, biện chứng. Dự kiến vào tháng 10 tới, hai ngành tổ chức một liên hoan du lịch tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Chúng tôi sẵn sàng dành địa chỉ Văn hóa quý giá nhất thành phố phục vụ Du lịch, cho dù nếu có sơ suất, Văn hóa sẽ phải chịu trách nhiệm. Bởi vì chúng tôi nhận thức rằng, hai ngành phối hợp chặt chẽ với nhau sẽ giảm thiểu tối đa vấn đề Du lịch ảnh hưởng không tốt đến giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Quan trọng hơn, Du lịch phát triển sẽ đóng góp khá lớn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả thành phố…
Nghĩa là ở ngành Văn hóa Hà Nội không tồn tại quan niệm “Văn hóa còng lưng làm để Du lịch thu lợi nhuận”?
Rất đúng. Không nên hiểu cục bộ phiến diện là ai thu lợi. Ai thu được cũng làm cho dân giàu nước mạnh cả.
Theo ông, cần phải làm gì để mối quan hệ giữa Văn hóa – Du lịch chặt chẽ hơn?
Hiện nay một mình Văn hóa không thể trùng tu, tôn tạo xuể hàng ngàn di tích lịch sử trên địa bàn Hà Nội. Chúng tôi không ôm khư khư trách nhiệm này để giành các dự án nhằm kiếm chút lợi lộc mà sẵn sàng chia sẻ với bất cứ ngành nào và tôi thấy Du lịch là hợp lý nhất. Vậy phải có cơ chế, chính sách trích một phần doanh thu mà ngành Du lịch nộp ngân sách nhà nước phục vụ công tác bảo tồn di tích. Đương nhiên chúng tôi vẫn phải tổ chức chặt chẽ về quản lý nhà nước để tránh sai sót. Như vậy Văn hóa và Du lịch mới thực sự cùng phát triển được, Thực tế cho thấy hai ngành Văn hóa và Du lịch Hà Nội đã bàn bạc cùng tôn tạo một số di tích lịch sử, còn khó vì vướng về nhận thức của một số bên khác. Tổng cục Du lịch cũng cần bàn bạc với Bộ Văn hóa – Thông tin ban hành văn bản liên tịch chỉ đạo việc phối hợp giữa Văn hóa – Du lịch ở cấp địa phương.
Xin cảm ơn ông.
Bốn dự án du lịch mới của hà nội
Sở Du lịch Hà Nội vửa quyết định giao nhiệm vụ chủ đầu tư bốn dự án: Tuyến du lịch sông Hồng cho Công ty Du lịch Hà Nội, khu nghỉ cuối tuần đường cao tốc Hà Nội – Hòa Lạc cho Công ty Du lịch và Thương mại Hà Nội, khu vui chơi giải trí Sóc Sơn cho Công Ty Du lịch Dịch vụ Hà Nội, khu vui chơi giải trí Đông Anh cho Công ty Du lịch Thương mại Cổ Loa.
Bốn doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện các bước lập dự án đầu tư theo đúng quy định về quản lý đầu tư, xây dựng, quy hoạch, huy động và sử dụng vốn. Đây là những dự án quan trọng góp phần đổi mới, phát triển du lịch Thủ đô cũng như nâng cao điều kiện sống cho người dân khu vực Hà Nội và các vùng phụ cận. Những dự án trên nằm trong chương trình phát triển Du lịch Thủ đô từ nay đến năm 2010 và những năm sau.
Do cơ sở vật chất như sân bãi: trang thiết bị dụng cụ để luyện tập, thi đấu… đã được các địa phương đầu tư đáng kể, nhất là cho các môn thế mạnh của mình nên các giải thi đấu trong nước sẽ không còn tập trung vào các trung tâm, thành phố lớn như trước. Các địa phương đủ điều kiện đều mong muốn và sẵn sàng đăng cai giải toàn quốc, nhằm khẳng định phong trào của địa phương và nâng cao thành tích trước các đối thủ trên toàn quốc.
Trịnh Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Hàng lưu niệm cần có chiến lược

Mua quà lưu niệm để làm kỷ vật cho một chuyến đi, ở một di tích, danh thắng v.v… là một trong những nhu cầu của người đi du lịch. Nắm bắt được tâm lý của khách, tại hầu hết một số điểm trên thế giới, người ta có hẳn chiếc lược sản xuất hàng lưu niệm, để thỏa mãn nhu cầu khách tham quan, đồng thời tạo được nguồn thu đáng kể. Nhưng hàng lưu niệm ở các điểm du lịch của Việt Nam thì sao?
Hiện nay, thì trường hàng lưu niệm cho du khách cũng được mở rộng và cải tiến một bước. Nhiều điểm du lịch đã có các sản phẩm đặc trưng, tạo được dấu ấn đệp trong lòng du khách.Sapa có các mặt hàng ví, áo ghi lê… làm bằng thổ cẩm với hoa văn tuyệt đẹp làm mơ hoặc lòng người. Quốc Tự Giám Hà Nội có những chùa rùa đá cõng trên lưng tấm bia đặc trưng riêng của nơi đây. Đến Lăng Bác, là những chiếc nhà sàn xinh xắn, gợi cho ta thấy đâu đây trong căn nhà đơn sơ, Hồ Chủ Tịch đang ngồi làm việc. Về xứ Huế mộng mơ, nhìn chiếc nón bài thơ đã thấy phản phất hồn dân Việt, làm xao xuyến hồn lữ khách. Thánh địa Mỹ Sơn có hình vũ nữ Chăm với điệu múa Apsara, mô hình tháp chăm bằng gạch nung xinh xắn như muốn gửi đến du khách lời sâu lắng qua từng nét chạm. Về phố cổ Hội An, chiếc đèn long muôn sắc cùng những con tò he bằng đất nung mang đậm nét văn hóa dân gian. Đà Lạt có bán những bức tranh thủy mạc được vẽ trên lụa để khi trở về du khách vẫn thấy xứ sở thơ mộng, trữ tình còn ở bên mình. Nhiều điểm du lịch ở Tây Nguyên, mô hình nhà rông, đàn T’ rưng là các sản phẩm mang đậm nét văn hóa của vùng cao nguyên lộng gió, được du khách đặc biệt mến mộ.
Theo nhận xét của nhiều du khách, đặc biệt là khách ngoại quốc thì, hàng lưu niệm của ta rẻ: đàn T’rưng nhỏ 40.000 – 50.000 đồng, nhà sàn từ 15.000 – 60.000 đồng, những chiếc giỏ bằng mây tre, có họa tiết đẹp chỉ từ 10 – 20.000 đồng. Những sản phẩm cần đến bàn tay khéo léo, kỳ công của các nghệ nhân giá vài trăm đến vài triệu đồng… Mặc dù vậy nhưng họ vẫn cho rằng, hàng lưu niệm ở ta chưa phong phú về kiểu dáng, mẫu mã cũng như chuẩn loại. Ông Vũ Vĩnh Phú – Phó giám đốc Sở thương mại Hà Nội, Ủy viên Ban chỉ đạo phát triển du lịch TP. Hà Nội nhận định: “Hà Nội là địa bàn thu hút được đông đảo khách trong nước và quốc tế. Nhưng hàng lưu niệm còn đơn điệu, thiếu bản sắc nên chưa tạo được ấn tượng với khách du lịch”. Ông Pichai Rakatasinha – Giám đốc Phân ban du lịch, Trung tâm ASEAN nhận xét: “Sản phẩm hàng lưu niệm của Việt Nam chưa có sự đồng bộ về số lượng và chất lượng. Cũng như chưa thể hiện được tính độc đáo, nét đặc trưng của mỗi vùng du lịch…”
Thực tế, những địa phương tạo được hàng lưu niệm có tính đặc trưng như Hội An, Huế, Sapa… còn quá ít. Du khách động Phong Nha Quảng Bình có thể tìm được gì ngoài vài chiếc áo phông, mũ in chữ Phong Nha mà sản phẩm này ở nhiều nơi khác cũng có, chỉ khác chăng là chữ in trên sản phẩm mà thôi. Như thế làm sao tạo được ấn tượng? Hà Tây – địa danh có nhiều điểm du lịch hấp dẫn, nhưng đến đây bạn sẽ tìm được gì? Chùa Hương – nơi “Nam thiên hạ đệ nhất động” mà dấu ấn chỉ là nhẫn mạ, chuỗi tràng hạt hay mấy chiếc khánh đồng hoặc nhựa! Hay cụm Sơn Tây – Ba Vì, ta tìm gì độc đáo? Trong khi đây là nhiều làng nghề độc đáo truyền thống nổi tiếng: lụa Vạn Phúc, khảm trai, điêu khắc, sơn mài… Sao không tạo nét đẹp riêng bằng chính các sản phẩm của địa phương để giới thiệu ở các điểm du lịch: một người bạn của tôi sau khi đi Phan Rang trở về phàn nàn: “Các điểm du lịch gần như không có cửa hàng bán đồ lưu niệm”. Tại sao vùng đất dân tộc chăm sinh sống. Với nền văn hóa đặc sắc và có nhiều sản phẩm hấp dẫn: gốm, thổ cẩm nổi tiếng từ bao đời, được du khách trong và ngoài nước ưa chuộng. Vậy mà ngành du lịch Ninh Thuận vẫn chưa biến thành sản phẩm du lịch, quả là đáng tiếc! Nhiều nơi khác: Vũng Tàu, Nha Trang, Thanh Hóa… khách mua được gì để gọi là đặc trưng phố biển?
Đâu là nguyên nhân của tình trạng trên? Trước hết, những nghệ nhân có tay nghề tinh xảo và sự sáng tạo độc đáo ở ta chưa có nhiều. Hơn nữa, nhiều làng nghề truyền thống đã bị teo tóp do sản phẩm không phù hợp. Còn lại, phần lớn tồn tại tự phát, không có sự định hướng, đầu tư của Nhà nước. Vì thế người sản xuất không nắm được nhu cầu, tâm lý khách du lịch. Sản phẩm làm ra không có thị trường tiêu thụ. Đến như anh Nguyễn Văn Trung một nghệ nhân của một làng nghề mây tre đan Phú Nghĩa, Chương Mỹ, Hà Tây, người được tặng giải “Bàn tay vàng” của Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam, có nhiều sản phẩm trưng bày tại các bảo tàng trong nước và quốc tế cũng phải than thở: “Tôi làm chủ yếu theo đơn đặt hàng, chứ chưa dám tự sản xuất, vì không nắm bắt được thị trường nên sợ ép giá”.
Vậy làm gì để hàng lưu niệm Việt Nam thực sự khẳng định được vị trí của mình. Phần lớn các nghệ nhân có tên tuổi đều mong muốn được sự ổn định định hướng của Nhà nước để phát triển nghề truyền thống. Hơn nữa, giám đốc của một Công ty Du lịch lớn tại Việt Nam cho biết: Sở dĩ các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia… có nhiều hàng lưu niệm ấn tượng và những đặc trưng là do họ có chiến lược sản xuất. Phải chăng hàng lưu niệm Việt Nam chưa tìm được hướng đi là bởi có một chiến lược phù hợp tình hình hàng lưu niệm góp phần tạo sự phong phú cho sản phẩm du lịch, là cầu nối cho các điểm trong nước và các nước với nhau. Du lịch Việt Nam được bạn bè quốc tế biết đến không chỉ bằng phương pháp tuyên truyền quảng bá, mà còn bằng hình thức thông qua hàng lưu niệm. Từ Việt Nam trở về, họ giới thiệu đất nước chúng ta bằng những kỷ vật cụ thể. Như vậy, tác dụng chẳng thiết thực hơn hay sao!
Bích Loan – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 221 (186) 2001

Phát triển du lịch tại Quê Lâm, Trung Quốc

Phát triển du lịch tại Quê Lâm, Trung Quốc, Quế Lâm, một trong những điểm du lịch đầu tiên ở Trung Quốc đã đón được khoảng 1 triệu lượt tới tham quan vào năm 2000, tăng 40 % so với năm 1999. Tổng thu nhập từ du lịch của thành phố cả khách quốc tế và nội địa là 0,4 tỷ USD.
Giám đốc cơ quan du lịch thành phố, ông Zhong Xinmin cho biết sở dĩ du lịch Quế Lâm đạt kết quả trên là do trong nhiều năm việc cải tạo xây dựng được tiến hành trên quy mô rộng lớn và vấn đề môi trường ở đây được bảo vệ rất chặt chẽ. Đó cũng là kết quả của những cải tạo trong cách quản lý các hoạt động du lịch và các tour trọn gói.
Quế Lâm được thế giới biết đến là nơi có những phong cảnh trữ tình và sông Li Giang đẹp như tranh vẽ. Từ năm 1999 thành phố đã tập trung cải tạo nâng cấp để biến nơi đây thành một thành phố du lịch. Những con đường được mở rộng, những ngôi nhà cũ kỷ được phá dỡ nhường chỗ cho những căn phòng đủ tiện nghi và 24 chiếc cầu được xây dựng lại.
Cùng với những cố gắng về vấn đề môi trường, một số công viên rộng 72,5 héc ta, điểm khởi hành tới ba tuyến hành trình ngắm cảnh thiên nhiên gồm sông Li Giang và núi Vòi Voi đã được lựa chọn làm vị trí đi lại không mất tiền.
Quế Lâm đã được đầu tư 73 triệu USD vào các đề án bảo vệ sông Li Giang bao gồm việc xây đê, đập, nạo vét sông để tàu bè qua lại được và xây dựng các nhà máy xử lý nước cống. Bên cạnh đó hiện nay 4 cái hồ ở tổng thành phố kết nối với sông Li Giang và sông Hoa Đào đã được nạo vét khôi phục có hiệu quả nguồn nước trong vùng. Thành phố cũng tiến hành cải tạo trên một quy mô rộng lớn điều kiện đi lại trên dông và chất lượng nguồn nước.
Những người điều hành tour đã phát triển mạnh các sản phẩm du lịch để tận dụng từ các sự nâng cấp này. Một tour trọn gói đi trên sông bằng tàu thủy vào ban đêm khởi hành tại Yangdi ngược dòng 40 kmm với Yangdi. Ngoài ra còn có ba tour khác cho khách du lịch lựa chọn là tour đi trên sông Li Giang, tour ngắm cảnh trên các hồ ở trong thành phố và tour ba công viên nước Yangsu Sister Liu.
Cơ quan du lịch thành phố Quế Lâm cũng đang lên kế hoạch phát triển tour du lịch trong gói hai ngày tạo điều kiện cho khách du lịch được chime ngưỡng cảnh mặt trời lặn trên sông Li Giang.
Nhằm tổ chức hợp lý hóa cho có hiệu quả hơn việc quản lý các hoạt động du lịch, thành phố Quế Lâm đã thành lập hai trung tâm, một nơi bán vé, giải quyết gấp các vấn đề liên quan đến tàu bè và các thủ tục thanh toán, một số giải quyết các vấn đề khác liên quan đến các tour ở sông Li Giang. Sự chuyển biến tích cực này nhằm loại trừ tận gốc trong qua khứ có nhiều bộ phận dính líu đến quản lý tour du lịch, kết quả là du khách phải chịu chi phí cao và hiệu quả công việc lại thấp.
Thành phố cũng đã lắp đặt hệ thống thông tin du lịch nhằm kết nơi tất cả các nơi điều hành trong vùng. Ngoài ra hệ thống còn chỉ dẫn bằng điện tử cho các tour du lịch tại sông Li Giang đã được phát triển thành nhiều loại ngôn ngữ khác nhau.
Từ năm 1850 – 1900 thời đại thép – nhôm – động cơ nổ
Năm 1856 – Bétxơme đã cải tiến cách luyện thép bằng phương pháp thổi không khí vào lò luyện khi quặng đang nóng chảy. Trước năm 1856 giá thép trên thị trường rất đắt và người sản xuất thép chỉ sản xuất với một số lượng ít vì sợ không bán được.
Nhờ có Bétxơme mã vào nửa cuối thế kỷ 19, thép được sản xuất đại trà, giá thành rẻ. Thép được sử dụng rộng rãi vào việc xây cầu, làm nhà, làm đường ray xe lửa…
Năm 1890 – Khánh thành chiếc cầu thép lớn đầu tiên trên thế giới. Cầu xây dựng mất 50 nghìn tấn thép tại xứ Êcốtxơ. Sau đó, nhờ có những dây cáp bằng thép, tại nước Anh và các nước khác ở châu u đã xây dựng nhiều cầu treo qua sông.
Năm 1890 – Nhờ có các dầm bằng thép, người ta đã xây được nhiều nhà chọc trời ở các nước phát triển.
Năm 1886 – Trước năm 1886, kim loại nhôm thuộc loại quý hiếm và đắt không kém bạc ngày nay. Thời đó các đồ dùng bằng nhôm: bát dĩa, lọ hoa, chậu rửa, cốc, thìa… thuộc loại hàng và chỉ thấy ở các cung điện vua, chúa hoặc ở các nhà giầu. Vua Napôleôn III rất ưa chuộng các đồ gia dụng bằng nhôm. Vào giữa thế kỷ 19, cách nay 150 năm, một fun nhôm (bằng 453,6 gam) được bán với giá 40 đồng tiền rúp bằng vàng ở Mátxcơva.
Từ năm 1886, công nghiệp luyện nhôm bằng phương pháp điện phân đã làm cho giá thành nhôm hạ đi nhiều lần, khiến kim loại nhôm trở nên thông dụng trong dân gian.
Ở Việt Nam, quặng nhôm có ở nhiều nơi, song nhiều nhất thấy ở Tây Nguyên, ước tính tới 1,2 tỷ tấn. Nếu tính cả loại quặng nhôm lẫn latêrít sắt thì trữ lượng khoảng 6 tỷ tấn.
Công nghiệp luyện kim bằng phương pháp điện phân tốn kém một năng lượng điện rất lớn. Nay mai khi ta xây dựng thêm được nhiều nhà máy thủy điện thì chắc chắn công nghiệp luyện nhôm sẽ phát triển mạnh ở nước ta.
Năm 1860 – Lơnoa phát minh ra động cơ đốt trong. Loại động cơ này có nhiều ưu điểm so với động cơ hơi nước vì không cần phải có nồi xúp-de, không cần phải đốt lò liên tục và tránh được hiện tượng nổ nồi xúp-de rất nguy hiểm.
Năm 1876 – Nicôlai Ốtô chế tạo ra động cơ nổ 4 chu kỳ chạy bằng ét-xăng. Từ loại động cơ này, các nhà khoa học nghĩ ra việc chế tạo ô tô và máy bay.
Năm 1892 – Ruđôn Điezen chế tạo ra động cơ mà ngày nay vẫn mang tên ông. Động cơ dùng nhiên liệu điêzen và có tên gọi là động cơ điêzen.
Hải Yến – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001