Vào đầu thế kỷ 21, du lịch Hà Nội sẽ ở trên một tầm cao mới – Phần 4

Phóng viên: Đồng chí có suy nghĩ gì khi có người nói rằng, để xứng đáng là một trung tâm Du lịch lớn của cả nước, Hà Nội phải nhanh chóng trở thành một “đại công viên” có tầm cỡ quốc gia và khu vực? Và để thực hiện được điều đó, thành phố sẽ có hướng và biện pháp đầu tư ra sao?
Đ/c HVN: Nét đặc trưng của Thủ đô Hà Nội là một thành phố có rất nhiều hồ tự nhiên với nhiều công viên và cây xanh, trong đó có những nơi rất nổi tiếng như Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Bảy Mẫu v.v… Trong những năm vừa qua, cùng với quá trình đô thị hóa, thành phố đã đầu tư rất nhiều vào việc sửa sang, nâng cấp các khu công viên, trồng thêm nhiều cây xanh. Nhiều hồ của Hà Nội đã được cạp bờ, làm đường dạo, tạo thảm cây xanh để nhân dân có nơi vui chơi, giải trí. Trong những năm gần đây, với phong trào giữ gìn Thủ đô “xanh, sạch, đẹp”, bộ mặt Thủ đô đã có nhiều đổi khác. Quy hoạch trồng cây xanh dọc theo từng tuyến đường, dọc theo các sông, mương thoát nước và trên các thảm đất trống đang được triển khai. Trên địa bàn Hà Nội hiện có trên 200.000 cây xanh, trên 30 vườn hoa, công viên với gần 400 ha thảm đỏ. Tuy nhiên so với một số thành phố trong khu vực, lượng cây xanh của Hà Nội chưa lớn.
Trong chương trình kỷ niệm 990 năm và 1000 năm Thăng Long cũng bao gồm nội dung xây dựng các khu công viên cây xanh, các khu vui chơi giải trí lớn như khu công viên Thanh Nhàn, công viên Hồ Yên Sở, khu công viên với vườn thú bán hoang dã Mễ Trì, công trình kè bờ, làm đường dạo, trồng thảm cây xanh xung quanh kết hợp xử lý nước Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch, biến nơi đây thành một nơi nghỉ ngơi lớn của nhân dân Thủ đô cũng như của khách du lịch.
Đến năm 2000 sẽ có thêm một số khu công viên cây xanh kết hợp vui chơi giải trí được đưa vào sử dụng như khu vui chơi giải trí Hồ Tây, tổ chức vui chơi giải trí Minh Trí (Sóc Sơn), công viên Nghĩa Đô, hồ Ngọc Khánh, công viên Tuổi Trẻ, công viên Đống Đa, khu Thể thao đua ngựa Mễ Trì v.v…
Phóng viên: Việc thành phố Hà Nội vừa được UNESCO trao tặng “giải thưởng UNESCO – Thành phố vì Hòa bình”. Đây là vinh dự và niềm tự hào không những của nhân dân Thủ đô mà là vinh dự to lớn của nhân dân cả nước. Đây là sự đánh giá chính thức của một tổ chức quốc tế có uy tín lớn đối với truyền thống yêu nước, khát khao tự do độc lập, hòa bình của toàn thể nhân dân Việt Nam.
Trường Đinh – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Vào đầu thế kỷ 21, du lịch Hà Nội sẽ ở trên một tầm cao mới – Phần 3

Người Việt Nam nói chung cũng như người thủ đô Hà Nội nói riêng yêu mến Hà Nội với tình cảm thiết tha, sâu lắng trước hết từ tình cảm hướng về cội nguồn, nơi có lăng Bác Hồ, quảng trường Đa Đình lịch sử, nơi làm việc của Trung ương Đảng và Chính phủ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao lưu quốc tế của cả nước. Tuy nhiên, cũng không phải nhiều người Việt Nam, kể cả người dân Hà Nội đã thật sự có hiểu biết đầy đủ và sâu xa về thủ đô Hà Nội, nhất là những hiểu biết về lịch sử anh hùng của cha ông trong quá khứ, những truyền thuyết mang tính huyền thoại của nhiều di tích lịch sử, những nét đẹp về bản sắc văn hóa… cần phải giữ gìn và phát huy. Vì vậy, ngành Du lịch phải đóng vai trò quan trọng cùng với các ngành khác làm tốt công việc này. Trước hết, ngành Du lịch phải đào tạo được đội ngũ đông đảo những người làm công tác du lịch có hiểu biết rất sâu sắc về lịch sử, về những đặc điểm văn hóa đặc sắc của thủ đô, từ đó mới truyền thụ lại được cho mọi người qua các hoạt động du lịch, vui chơi giải trí. Những đặc điểm về lịch sử, văn hóa của thủ đô cũng phải thể hiện được từ khâu quy hoạch, kiến trúc, sắp xếp bố trí nội dung các nơi du lịch, tham quan giải trí. Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch gắn với các nội dung về lịch sử, văn hóa của thủ đô cũng cần phải tiến hành hết sức sâu rộng và tận dụng mọi hình thức, mọi phương tiện thông tin đại chúng với những hình thức nhẹ nhàng nhưng súc tích mang đậm tính văn hóa, tính nhân văn.
Trong chương trình kỷ niệm 990 năm và 1000 năm Thăng Long lịch sử, nội dung truyền thuyết về cội nguồn, về lịch sử, văn hóa đặc trưng của Thủ đô là nội dung quan trọng hàng đầu, đòi hỏi sự đóng góp của nhiều ngành, nhiều cấp, trong đó với chức năng của mình, ngành Du lịch chắc chắn sẽ đóng góp phần quan trọng.
Hiện tại ngành du lịch Thủ đô đã triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền chương trình phát triển du lịch Thủ đô hướng tới kỷ niệm 990 năm và 1000 năm Thăng Long. Cuộc Liên hoan ngành Du lịch được tổ chức tại Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng Thủ đô chắc chắn sẽ là cơ hội để ngành du lịch Thủ đô giao lưu rộng rãi, học tập những kinh nghiệm thành công của các đơn vị khác, đưa ngành Du lịch thủ đô tiến lên một giai đoạn mới, xứng đáng là một trong ba trung tâm du lịch lớn nhất của cả nước.
Trường Đinh – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Vào đầu thế kỷ 21, du lịch Hà Nội sẽ ở trên một tầm cao mới – Phần 2

Phóng viên: Hà Nội đang tiến đến kỷ niệm 990 năm 1000 năm Thăng Long. Rõ ràng là so với nhiều nơi khác, du lịch Hà Nội có lợi thế rất lớn bởi được phát triển trên một vùng đất có bề dày văn hóa, lịch sử… Vậy theo đồng chí trong những năm qua Du lịch Hà Nội đã khai thác đúng mức các thế mạnh nhà chưa?
Đ/c HVN: Với bề dày lịch sử gần 1000 năm tuổi, Hà Nội là nơi tập trung nhiều nhất những di tích lịch sử, văn hóa mang đậm bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam. Hiện nay Hà Nội có trên 2500 di tích lịch sử và văn hóa, trong đó có trên 500 di tích đã được xếp hạng, chiếm 19,4% số di tích của cả nước. Hà Nội lại là thủ đô – Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật, là đầu mối giao lưu của cả nước. Những yếu tố trên là những lợi thế rất quan trọng của ngành Du lịch Thủ đô và trong những năm qua đã từng bước được khai thác. Trong chương trình chuẩn bị 990 năm Thăng Long – Hà Nội vào năm 2000 và 1000 năm Thăng Long – Hà Nội vào năm 2010 nhiều di tích lịch sử, nhiều công trình văn hóa sẽ được sửa sang, tôn tạo. Trong số đó có các công trình lớn như Khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hồ Văn, Khu Thành Cổ, Khu di tích lịch sử Cổ Loa, tượng đài Lý Công Uẩn và hệ thống tượng đài lớn trên địa bàn Thủ đô. Thành phố cũng xây dựng thêm các khu vui chơi giải trí lớn như công viên Yên Sở, Công viên và khu vườn thú Mễ Trì, các khu vui chơi giải trí ở Hồ Đống Đa, Hồ Tây v.v… Những công trình đó chắc chắn sẽ được khai thác phục vụ cho mục đích tham quan du lịch, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cho nhân dân Thủ đô, cho đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế. Ngành du lịch của Thủ đô Hà Nội sẽ có cơ hội vươn lên một tầm cao mới, góp phần quan trọng vào tốc độ phát triển kinh tế của Thủ đô.
Phóng viên: Nhiều người cho rằng, ngay những người đang sống và làm việc tại Hà Nội, thậm chí cả những người gốc Hà Nội vẫn hiểu về Hà Nội còn quá ít, liệu thành phố và ngành du lịch Thủ đô có cách gì để góp phần khắc phục tình trạng này?
Đ/c HVN: Thủ đô Hà Nội – trái tim của cả nước, là nguồn cảm hứng sâu xa cho biết bao văn nghệ sĩ để sáng tạo nên những tác phẩm văn học, những tập tranh, ảnh nghệ thuật, những bản nhạc, những bài ca v.v… viết về lịch sử, văn hóa, về những danh lam thắng cảnh, những tập tục cũng như những đặc điểm rất riêng trong tính cách của con người Hà Nội thanh lịch.
Trường Đinh – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Vào đầu thế kỷ 21, du lịch Hà Nội sẽ ở trên một tầm cao mới – Phần 1

LTS: Hà Nội đang tưng bừng với nhiều hoạt động thiết thực để tiến tới kỷ niệm 990 năm và 1.000 năm Thăng Long. Hòa vào không khí đó, ngành Du lịch Thủ đô đang triển khai nhiều hoạt động tích cực mà nổi bật là việc tổ chức Liên hoan Du lịch Hà Nội vào giữa mùa thu này. Nhân dịp này, phóng viên báo Tuần Du Lịch phỏng vấn đồng chí Hoàng Văn Nghiên, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về những vấn đề liên quan đến sự phát triển của Du lịch Thủ đô.
Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn:
Phóng viên: Thưa đồng chí, là một trong những ngành quan trọng của thành phố, vậy Du lịch Hà Nội có vị trí, vai trò ra sao trong nền kinh tế xã hội của Thủ đô?
Đ/c HVN: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Khi kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân được nâng cao, nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí sẽ ngày càng trở nên rất cấp bách. Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XII (1996) đã xác định Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Thủ đô. Trong nghị quyết số 11 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội (tháng 8 năm 1998) về “Đổi mới và phát triển Du lịch Thủ đô đến năm 2010 và những năm sau” cũng khẳng định ngành Du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Thủ đô vào thập niên đầu của thế kỷ 21, xứng đáng với vị trí là một trong ba trung tâm du lịch lớn nhất của cả nước.
Ngành du lịch trước hết góp phần đáng kể trong việc chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế, tăng nhanh tỷ lệ thành phần du lịch, dịch vụ, thương mại. Khi biết tổ chức và khai thác hết được mọi tiềm năng sẵn có thì du lịch sẽ là ngành kinh tế đầu tư có hiệu quả cao, nhanh thu hồi vốn để có điều kiện tái cơ cấu mở rộng. Ngành du lịch phát triển sẽ giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động. Với việc trùng tu và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa của dân tộc, thông qua du lịch, chúng ta có điều kiện để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước về truyền thống lịch sử và nền văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam cũng như những thành tựu trong công cuộc xây dựng và triển khai cả nước ta trong giai đoạn hiện nay. Ngành Du lịch cũng là cầu nối để mở rộng giao lưu giữa Hà Nội với cả nước, với bạn bè trong khu vực và trên thế giới, đẩy nhanh quá trình hội nhập, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.
Trường Đinh – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Thương mại – Du lịch cùng chung một nhà

LTS: Để tìm hiểu kế hoạch triển khai Pháp lệnh Du lịch, Chương trình Quốc gia về Du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000 của các Bộ, ngành liên quan, thời gian qua Báo Tuần Du lịch đã có những cuộc tiếp xúc với các thành viên của Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch. Với ngành Thương mại, Tuần Du lịch đã đề nghị được tìm hiểu xung quanh 3 vấn đề:
1-Có người nói rằng trong các Sở Thương mại – Du lịch chỉ có thương mại được coi trọng, còn du lịch được sao hay vậy, và gọi nó một cách hài hước là Sở Thương mại “trừ” Du lịch. Chuyện đó thực hư như thế nào?
2-Mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau giữa “Thương mại và Du lịch”? Xin cho biết những kết quả cụ thể trong thời gian qua như: tổ chức hoạt động của ngành Thương mại tại các điểm du lịch, khách du lịch tiêu thụ hàng hóa của ngành Thương mại, doanh thu của thương mại trong các mùa du lịch hằng năm….
3-Ngành Thương mại đã có những phương hướng phối hợp hoạt động với ngành Du lịch thế nào trong thời gian sắp tới. Nhất là việc chuẩn bị cho các sự kiện Du lịch năm 2000?
Trả lời những vấn đề trên Thứ trưởng Lương Văn Tự đã dành cho Báo Tuần Du lịch bài viết dưới đây. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Du lịch là một ngành kinh tế, ngành kinh doanh dịch vụ và là một bộ phận hợp thành của kinh tế đối ngoại, có quan hệ mật thiết với hoạt động thương mại. Vì sự gắn bó đó nên được mệnh danh là ngành công nghiệp không có ống khói. Trong lịch sử hình thành và phát triển ngành thương mại và du lịch đã từng một đôi lần cùng chung trong một bộ máy quản lý nhà nước cấp dưới hình thành Sở Thương mại và Du lịch. Ý kiến cho rằng: Trong các Sở Thương mại – Du lịch chỉ có Thương mại được coi trọng còn Du lịch được sao hay vậy là không đúng. Trong chiến lược và thực tiễn phát triển kinh tế của các địa phương, tùy theo thế mạnh của địa phương để tập trung vốn và các nguồn lực vào phát triển lĩnh vực đó. Địa phương nào có thế mạnh về du lịch thì tập trung phát triển du lịch như Ninh Bình, Lào Cai, Bình Thuận v.v… Năm 1998 Bình Thuận đã đầu tư vào du lịch 79,4% tổng mức đầu tư vào ngành thương mại và du lịch. Các địa phương có cảng biển, có nhiều nguồn hàng xuất khẩu thì họ ưu tiên khai thác thế mạnh này. Nhưng để các địa phương đi lên nhanh thì lãnh đạo các tỉnh cần phát huy cả thế mạnh của mình và biết tạo ra thế mạnh mới. Sự phát triển nhịp nhàng giữa thương mại và du lịch sẽ hỗ trợ lẫn nhau và tăng nguồn thu, tạo thêm việc làm mới cho địa phương. Cho đến nay vẫn còn 47 trong số 61 địa phương duy trì Sở Thương mại và Du lịch, Đồng thời trong lĩnh vực hoạt động Công đoàn, trên phạm vi toàn quốc, các Công đoàn cơ sở của Ngành Thương mại và Ngành Du lịch vẫn hoạt động chung trong một tổ chức Công đoàn ngành Thương mại và Du lịch Việt Nam.
Thực tiễn quá trình phát triển đã chứng minh, hoạt động thương mại – du lịch và hoạt động du lịch gắn bó đan xen, kích thích và làm tiền đề cho nhau cùng phát triển vì lợi ích chung của đất nước và của từng địa phương. Không thể hình dung các sản phẩm du lịch được thực hiện lại thiếu vắng các hoạt động thương mại dịch vụ kèm theo. Ngược lại, khi hoạt động thương mại dịch vụ được mở mang, được tổ chức chu đáo văn minh lịch sự lại không cuốn hút khách du lịch.
Xây dựng mạng lưới bán hàng cho khách du lịch từ sân bay, khách sạn đến khu du lịch. Tạo ra nhiều mặt hàng phong phú về chủng loại, mang nặng văn hóa dân tộc, đẹp và giá thành cạnh tranh. Năm 1997 ta đã đón 1,7 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, ngoài ăn ở đi lại nếu ta bán được cho mỗi người khách hàng hóa trị giá 100 USD thì mỗi năm thông qua khách du lịch nhà nước có thể xuất khẩu một lượng hàng trị giá một đến hai trăm triệu USD. Chưa kể trong số khách du lịch có những người sẽ trở thành các bạn hàng lâu dài của Việt Nam, sau ấn tượng đẹp của một chuyến du lịch.
Là thành viên trong Ban Chỉ đạo Nhà nước về du lịch, Bộ Thương mại rất hoan nghênh chương trình hành động quốc gia về du lịch và dự kiến du lịch năm 2000 do ngành du lịch đề ra và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Thương mại sẽ cùng với các tỉnh chỉ đạo các Sở Thương mại và Du lịch đi bằng hai chân tổ chức thực hiện tốt chương trình này.
Ngành Thương mại sẽ từng bước hướng dẫn các nhà sản xuất tạo ra nhiều mặt hàng phong phú để bán cho khách du lịch; cùng với ngành Du lịch hoàn chỉnh các chính sách liên quan đến xuất khẩu dịch vụ nói chung và du lịch nói riêng.
Nhân dịp này, xin chúc Báo Tuần Du Lịch ngày càng phát triển trở thành người bạn thân thiết trong gia đình Du lịch Việt Nam và xin thông qua Tuần báo được gửi lời chào và chúc mừng tốt đẹp nhất tới tất cả bạn đọc.
Lương Văn Tự – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Chống buôn lậu ở Bắc Giang “Người trong cuộc còn thiếu “gậy””

Dân buôn đông, mánh khóe nhiều, địa bàn thuận lợi nên từ lâu, tỉnh Bắc Giang (BG) chưa bao giờ “hạ nhiệt độ” về buôn lậu. Không sát biên giới, không kề cận Hà Nội, nhưng BG là điểm giao thoa quan trọng giữa các tỉnh biên giới với thủ đô và đất cảng. Nói không qua lời, BG là điểm trung chuyển hàng rất lý tưởng cho dân buôn lậu!
Chuyện tự kể của dân buôn
Muốn bắt à, xin lỗi, có mà bắt “vào mắt !” – người phụ nữ tên Vang chuyên nghề tẩu tán hàng lậu ở BG bĩu môi, xách mé lên lớp cho chúng tôi. “Cứ vây đi, cứ bắt đi – Vang nói tiếp – đàn bà bọn chị không thiếu cách: nhẩy vào ôm chặt lấy người, thằng nào đẩy nhẹ một cái là nằm ra ăn vạ… Lúc đó thì nhiều chuyện lắm !” “Quái chiêu” kể trên mới chỉ là một ngón nghề. Dân buôn lậu ở BG còn vô số “độc thủ” khác mà các lực lượng chống buôn lậu khi gặp phải chỉ còn mỗi nước ngậm ngùi nhìn hàng lậu đổ về xuôi. Để lọt hàng, dân buôn ở BG không từ một thủ đoạn gì. Tinh vi như “làm luật” cho lực lượng chức năng, quay vòng tem dán và hóa đơn bán hàng… Tàn nhẫn như dùng bạo lực, hành hung người làm nhiệm vụ. Tuấn – một “đại bàng” ở BG nói với chúng tôi: “Tất nhiên, việc bắt hàng là trách nhiệm của “bọn nó”, nhưng thằng nào làm ác quá thi bọn tôi cũng phải “chơi” ! Nghe quả là đáng sợ.
Dân buôn lậu ranh ma thừa hiểu một điều:Bắt hàng lậu không gì dễ bằng bắt tại điểm đỗ hàng. Vì vậy, hàng lậu qua tỉnh luôn ở trạng thái lưu thông. Tinh quái hơn, phương tiện vận chuyển không đi xe to, chỉ đi xe nhỏ như 4 chỗ, 12 chỗ cho dễ chạy. Thêm nữa, các loại xe này được thiết kế lại để giấu hàng cho kín đáo. “Tính trung bình boa nhiêu chuyến “đi hàng” thì mất một ?”. H.L.V – một tay buôn cỡ bự ở BG đáp lời: “Cũng khó nói, nhưng tôi đi hàng thì ước khoảng 20 chuyến “đổ” một chuyến”. Rõ ràng tỷ lệ đó là “thắng lớn” đối với dân buôn lậu.
Tóm lại, đối với dân buôn lậu ở BG có đủ loại. Nghèo rớt thì tham gia giải cứu, tẩu tán hàng bị bắt. Khá hơn thì có xe ôm chạy hàng lẻ về. Còn nhiều tiền thì đánh hàng biên giới đưa về Hà Nội. Dân buôn đông, thu lời lớn… xem chừng buôn lậu ở BG vẫn còn đất “dụng võ” cho các “anh hào” hành nghề… buôn lậu !
Nỗi niềm người trong cuộc
Trong buổi làm việc với chúng tôi, ông Dương Trọng Tài. Giám đốc Sở Thương mại – Du lịch Bắc Giang khẳng định: “Muốn chống buôn lậu có kết quả, Ban 853 của tỉnh có một “cái gậy”. Vậy “cái gậy” mà ông Tài nói hiện ở tình trạng như thế nào ? Trên thực tế, BG hiện nay có 3 lực lượng tham gia chống buôn lậu là: Công an, Quản lý thị trường và ngành Thuế. Mỗi cơ quan có một chức năng, nhiệm vụ riêng, nhưng cả 3 lực lượng này đều có thể “hành quyết” hàng nhập lậu. Tuy nhiên, xét về đặc thù buôn lậu tại BG thì cảnh sát giao thông (CSGT) hiện có nhiều “đặc quyền” thì đương nhiên sinh “đặc lợi”. Mọi chuyện “lục đục” trong công tác chống buôn lậu phần lớn bắt nguồn từ đây. Theo qui định hiện hành, chỉ có CSGT mới có quyền dừng phương tiện giao thông đang chạy trên đường. Trong khi đó, BG là địa bàn trung chuyển của hàng lậu nên dân buôn rất ít khi tập kết hàng mà chủ yếu là cho hàng lên ô tô chạy qua tỉnh. “Qua sông phải lụy đò, cả QLTT, lẫn Thuế, muốn dừng xe nào lại đều phải “lụy” CSGT. Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như sự phối hợp giữa các lực lượng chức năng diễn ra suôn sẻ. Nhưng khổ nỗi, một ngày bên CSGT chỉ cấp cho mỗi cơ quan trên… một lệnh dừng xe. Vậy là vô hình chung, hàng lậu chỉ còn một “cửa tử” duy nhất là CSGT. Và đương nhiên, những trục trặc của chính các lực lượng chức năng đã khiến cho dân buôn luôn ở trong tư thế “ngư ông đắc lợi” mà tiếp tục “vô tư” chuyển hàng…
Để hình dung một cách hình tượng nhất về buôn lậu và chống buôn lậu ở BG thì hàng lậu như cá trong một khúc sông chảy qua một điểm nút có tấm lưới vá chằng, vá đụp chắn ở đó. Hàng dính ở đâu thì coi như chết ở đó, còn chỗ nào qua được thì do nhiều nguyên nhân như người vừa thiếu lại vừa yếu, phương tiện không đầy đủ, chính sách có kẽ hở và tất nhiên là cả tiêu cực nữa. Ông Dương Trọng Tài, Giám đốc Sở Thương mại – Du lịch từng nói, “Điều dở nhất là các lực lượng chuyên ngành ở đây thiếu sự tôn trọng ý kiến của Ban 853. Cứ mạnh ai nấy làm, mà như vậy thì…
Bài toán vẫn còn nan giải
Chúng tôi có mặt tại trụ sở đội QLTT số 1 đúng vào lúc nhân viên ở đội bắt được hàng lậu. Đó là 1 tấn đường Trung Quốc của chủ buôn Thiều Thị Thanh. Chủ hàng tráng mặt chỉ cho người nhà ra làm thủ tục. Tay “người nhà” này sau khi hoàn tất mọi việc vẫn giữ nguyên nét mặt bình thản và bảo “phải về mổ gà ăn mừng”. Hỏi sao lại có chuyện ngược đời như vậy thì tay này giải thích “Mất người mới là quan trọng chứ mất hàng chỉ là chuyện nhỏ. Mất rồi sẽ lấy lại, bởi buôn lậu gỡ nhanh lắm mà !”
Hiện tượng này còn tồn tại phải chăng Ban 853 ở Bắc Giang thiếu một “cây gậy” quyền uy theo đúng nghĩa đen của nó ?.
Sơn Long-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Du lịch Lào và những triển vọng hợp tác

LTS: Chuyến thăm và làm việc tại Lào từ ngày 22-25/8/1999 của Đoàn đại biểu Du lịch Việt Nam do Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng dẫn đầu đã mở ra một triển vọng hợp tác cho ngành Du lịch hai nước. Hai bên đã ký kết văn bản về Chương trình hợp tác du lịch với những nội dung cụ thể: trao đổi đoàn cán bộ giai đoạn1999-2000, trao đổi kinh nghiệm quản lý và phát triển du lịch;trao đổi tài liệu thông tin du lịch; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hợp tác kinh doanh và xây dựng chương trình du lịch chung; đào tạo nhân lực du lịch cho Lào. Nhân dịp này Tuần Du Lịch xin giới thiệu đôi nét về ngành Du Lịch của đất nước hoa Chăm-Pa và những triển vọng hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực Du Lịch.
Du Lịch Ngành kinh tế hiệu quả nhất của Lào
Trong số các ngành kinh tế hàng đầu của Lào thì Du Lịch hiện đang vươn lên đứng đầu về hiệu quả kinh doanh. Năm 1997 ngành sản xuất, khai thác và chế biến gỗ đạt 79,3 triệu USD, ngành Du Lịch thu 73,3 triệu USD may mặc 72,6 triệu USD, nông ngiệp đạt 16,5 triệu USD. Đến năm 1998 ngành Du Lịch Lào thu tới 79,9 triệu USD, ngành may mặc đạt 76,5 triệu USD, điện tử 49,6 triệu USD, ngành sản xuất gỗ đạt 41,2 triệu USD.
Hiện nay Lào có 18 đơn vị kinh doanh du lịch quốc tế, không có doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa. Cơ quan du lịch quốc gia Lào nằm trong bộ Thương mại – Du lịch, hiện có gần 10 vụ chức năng, trong đó có chức năng cảnh sát du lịch. Khách du lịch quốc tế đến nước Lào theo đường hàng không chủ yếu qua 2 sân bay Vạt – tày và Luông Phrabăng. Khách đường bộ thường qua các cửa khẩu với các nước có chung biên giới như Việt Nam, Campuchia, Trung Quốc, Thái Lan, và Mi-an-mar. Nhờ những cải tiến thông thoáng về thủ tục xuất nhập cảnh, đặc biệt là việc cho phép công dân ở các nước láng giềng có chung đường biên giới có thể vào thăm Lào bằng giấy thông hành biên giới (Border Pass), nên lượng khách quốc tế đến thăm Lào đã tăng đáng kể. Năm 1997, du lịch Lào đón 463.200 lượt khách quốc tế, trong đó khách từ các nước ASEAN – Thái Bình Dương là 403.781 lượt người, sang năm 1998, Du lịch Lào đón được 500.200 lượt khách quốc tế thì có tới 421.196 lượt khách là từ thị trường ASEAN – Thái Bình Dương.
Trên toàn bộ đất Lào có gần 10.000 phòng khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ trong đó có 5.000 phòng đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế. Giá buồng nghỉ trung bình từ 20-25 USD/phòng/ngày.
Lào tổ chức buổi lễ “Năm du lịch Lào 1999-2000” (Visit Laos Year 1999-2000) chính thức từ ngày 18-23/11/1999 với dự kiến có khoảng 75 đại diện du lịch quốc gia và các tổ chức đu lịch thế giới tham dự. Đây là một cơ hội để thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp không ống khói của lào.
Những triển vọng hợp tác
Do có chung đường biên giới nên hiện đã có 53 đơn vị du lịch của Việt Nam ký kết hợp đồng trao đổi khách với các đơn vị du lịch Lào. Lượng khách du lịch Việt Nam đi thăm Lào đã tăng rất nhanh. Từ 92 khách năm 1993 lên mức gần 80.000 khách trong năm 1997 và 1998.
Hiện nay hiệp hội ASEAN đang hoạch định chính sách xây dựng một tổng thể ASEAN riêng để có vị thế đối với các châu lục khác. Từ ý tưởng này, việc hợp tác du lịch giữa Việt Nam – Lào – Campuchia sẽ có một giá trị đặc biệt. Cả ba nước cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, có nhiều tiềm năng du lịch hấp dẫn riêng và khi bổ sung cho nhau sẽ tạo thành một khu vực du lịch với đủ các loại hình cùng nhiều sản phẩm du lịch đa dạng. Để đưa những ý tưởng này thành hiện thực trước mắt cần nghiên cứu và sớm triển khai những chương trình hợp tác sau:
Tăng cường trao đổi thông tin về du lịch giữa hai nước Việt – Lào (và Campuchia); những thông tin về kinh nghiệm, quản lý, và phát triển du lịch, phù hợp với đề nghị của phía bạn Lào.
Xúc tiến cùng phía Lào mở tuyến du lịch liên hoàn với 3 loại hình cơ bản.
Tuyến du lịch bằng xe ô tô tay lái nghịch.
Tuyến du lịch đường bộ liên hoàn: Viên Chăn – Đà Nẵng – Huế – Gia Lai – Đắk Lắk – Savanakhet – Viên chăn và ngược lại.
Tuyến du lịch mới qua đường hàng không: Luang Phara-bang – Điện Biên Phủ – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và ngược lại. Hoặc từ Luang Phra-bang – Điện Biên Phủ – Hà Nội, Đà Nẵng (và bằng đường bộ) đến Huế – Savanakhet – Viên chăn.
Kết hợp với năm du lịch Lào (1999-2000) với chương trình hành động quốc gia của Việt Nam cùng xây dựng chương trình sản phẩm quảng bá du lịch chung cho 2 nước.
Cử chuyên gia du lịch sang Lào để giúp bạn đào tạo về nhân lực du lịch.
Kiến nghị sớm nghiên cứu và cho phép nâng cấp Tây Trang thành cửa khẩu quốc tế tại tỉnh Lai Châu với Lào.
Với Campuchia: ngoài tuyến du lịch đường không và đường bộ hiện có cần sớm bàn bạc, phối hợp với nước bạn xây dựng tuyến du lịch phối hợp bằng đường sông và tuyến du lịch liên hoàn 3 nước Đông Dương.
Nguyễn Minh Đức – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Tham gia phòng chống tệ nạn xã hội: Phố cà phê “chuồng”

Từ khu mua được căn hộ ở cạnh Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I tôi thường tự hào rằng mình có một nơi ở lý tưởng. Sẽ không một thứ tệ nan nào có thể xâm hại khu vực được coi là thánh địa của sự mô phạm. Rồi một đêm mát trời Dũng “cò” lộc cộc mò vào nhà tôi răn dạy: “Mày ngây thơ thế em ơi!”….Đi dọc đường cao tốc Nam Thăng Long vàng vọt ánh đèn đường, Dũng kéo tôi vào quán cà phê Bằng lăng tím nằm sát cổng Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ. Sau vòm cổng tre trang trí rất kiểu cách là một dãy lán nép mình trong ánh đèn mờ được treo khéo léo dưới tán những cây liễu rủ thướt tha. Một anh chàng đẩy chúng tôi vào hai buồng bé tí lợp lá cọ, một phía thưng bằng cót ép, ba phía còn lại che bằng mành tre giống như cái chuồng gà. Cách một tầm mành tre, tiếng Dũng lào khào khích lệ: “Vô tư đi, mày”. Nửa phút sau, một cô gái tốc rèm bước vào, trên tay là một đĩa hoa quả và hai chiếc khăn lạnh. Căng mắt dưới ánh đèn ma quái, tôi rờn rợn nhận ra một khuôn mặt nhăm nhúm, trâng tráo. “Màn chào hỏi” thật bất ngờ, cô ta tự giới thiệu tên rồi sà ngay vào lòng tôi, vít cổ xuống….hôn túi bụi. Tôi chưa kịp định thần cô ả đã nhắc khéo:
-Kìa anh….
-Nhưng…sợ lắm!
-Xời ơi! Sợ gì, thằng quái nào vào đây mà chả thế.
Thật may đúng lúc đó, ánh đèn xe máy lóa lên phía cổng kèm một giọng khê nồng hách dịch: “Linh đâu, chủ quán?” Nhận ra tiếng người quen, Linh xốc váy xông ra, mém lại cho tôi một câu đắng ngét “Đồ…lại cái”. Họ dìu nhau vào một “chuồng” ngay sát tôi. Khi ngọn đèn đỏ như hạt đỗ tắt, tiếng động rậm rịch bắt đầu nổi lên, tiếng thở gấp gáp chìm hút vào tiếng nhạc rên rỉ. Rời khỏi Bằng lăng quán Dũng hất hàm hỏi: “Thế nào?”. Tôi nói thật là sợ. Dũng cười hô hố: “Mày ngu bỏ mẹ, mất tiền mua mâm phải đâm cho thủng. Tự nhiên mất toi năm chục ngàn”. Rồi hắn hạ giọng: “Có năm chục bạc, chỗ khác thì đứt vài “cân”.”
Chân dung một ông chủ
Tr. là dân sư phạm, học xong về quê dạy học được hơn hai năm. Đồng lương anh giáo làng ở mảnh đất chỉ có sắn trồng trên đá ong không nuôi nổi con chữ trong bụng hắn. Hắn bỏ quê trở lại Hà Nội làm thợ sơn, tư vấn lao động, gia sư….vật lộn vì miếng cơm với hy vọng được “sống mãi với thủ đô”. Khi đã có một ít tiền, Tr. thuê một ki-ốt trên đường cao tốc này với giá 1,1 triệu/tháng mở quán cà phê karaoke. Khai trương ba ngày đã có tiếp viên đến xin làm việc. Tr. ngây thơ đuổi đi hết. Không có tiếp viên hãn hữu mới có khách hát, tiền thuê nhà đến tháng cứ phải trả, thua lỗ liên tục bốn tháng trời, Tr. tặc lưỡi…Từ khi có cave, quán cà phê của Tr. tấp nập khách vào ra. Là một trí thức bỏ tư duy, chất xám đầu tư vào quán cà phê ôm dứt khoát Tr. phải “ác liệt” hơn gần 50 quán cà phê karaoke trên đoạn đường chừng 800m từ ngã ba Xuân Thủy đến ngã ba Hoàng Quốc Việt. Khác có những quán có tên quyến rũ như: Tre Ngà, Ngọc Huyền, Ngọc Sương, Lá Cọ…., Tr. bỏ nhiều công của vào nhà hàng tìm cave “nuột” hoặc đích thân về quê tuyển mộ các em còn “hương đồng gió nội”, thậm chí là sinh viên ở các trường đại học. Đôi khi vì một chút lương tri còn sót lại nên thi thoảng Tr. cũng biết thương hại dúi cho các em không còn “khả năng khai thác” ít tiền trước khi đẩy ra đường.
Theo ước tính mỗi quán cà phê ở đây có từ bốn đến năm cave. Dọc hai bên đường có tới gần 50 quán tức là có ít nhất 200 cave. Đó là chưa kể số đông không làm cố định mà thuê nhà ở trong làng, khi nào có khách thì chủ nhà hàng gọi.
-Đồn công an phường Mai Dịch ngay kia ông không sợ bị bắt à ? – Tôi hỏi Tr.
-Mỗi tháng đều phải nộp phạt một lần, mà nếu có dẹp thì dẹp cả dãy…. Tr. cười khẩy.
Chúng tôi vừa dừng xe bên hồ Nghĩa Đô các em đã xông ra chèo kéo tíu tít: “Đi đi anh”. Dũng hất hàm hỏi: “Ở đâu?”…”Trong kia” nói rồi các em chỉ tay vào trong vườn cây rậm rịt. Dũng bảo: Bây giờ ít rồi đấy, công an đã hót đi mấy đợt, thế nhưng ở đâu nó lại cứ mò ra. Ở quán Bên hồ, ông chủ Trương sai một chú nhóc dẫn chúng tôi tới một dãy “chuồng gà”. Dọc hai bờ ao, bao cao su nổi lều phều trên mặt nước. Trong “chuồng” kê cái bàn con, một ghế băng có thể nằm được và chiếc chiếu đơn. Ngăn bên cạnh tôi bắt đầu rung lên bần bật, nhòm qua một cái lỗ thủng ở vách, một đôi trai gái trong trang phục Adam và Eva đang quấn lấy nhau. Tôi đếm được mười bảy ô tất cả mà hình như ô nào cũng rung lên như “phải gió”. Điều làm tôi ngạc nhiên rằng Bên Hồ quán, Đầm Sen quán đều nằm cách trụ sở công an, UBND, HĐND phường Dịch Vọng chưa đầy 50m! Có phải tại rằng “gần chùa gọi bụt bằng anh”?
“Thổ công” có biết?
Những quán cà phê “ôm tới bến” kiểu này đang tái xuất hiện ở một số nơi tại Hà Nội như: đường cao tốc Nam Thăng Long, đường Lạc Long Quân (quận Tây Hồ), khu Liên Ninh (quận Thanh Trì)….và biến tướng dưới nhiều loại hình khác như câu cá ôm, chọc bida ôm…Lực lượng công an đã có những biện pháp cứng rắn để hạn chế hiện tượng này như: Tăng cường kiểm tra, công bố, tên tuổi, địa chỉ kẻ mua dâm….thế nhưng những biện pháp này có vẻ chưa triệt để, còn nhẹ tay vì nhiều lý do tế nhị. Việc thực thi pháp luật không nghiêm đã tiếp tay cho loại tệ nạn này phát triển. Theo chúng tôi, công an Thành phố Hà Nội, ngoài những biện pháp nghiệp vụ còn cần phải nghiêm túc hơn nữa đối với cán bộ của mình. Kiên quyết xử lý những cán bộ để hiện tượng mai dâm tồn tại trên địa bàn mình quản lý. Chuyện tày đình xảy ra trên đất của mình, ông thổ công không thể không biết!
Ngô Chí Tùng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Tàu du lịch thành phố Bắc Hải tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc cập cảng Hải Phòng

Sau nhiều năm cố gắng, nỗ lực giữa Sở Du lịch Hải Phòng và Cục Du lịch thành phố Bắc Hải, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) trong việc hoàn tất các thủ tục để khai thông tuyến du lịch đường biển từ Bắc Hải đến Hải Phòng, vừa qua chuyến tàu du lịch đầu tiên của thành phố Bắc Hải đã cập cảng Hải Phòng theo đúng lịch trình.
Tàu mang tên “Tân Thượng Hải”, trọng tải 4000 tấn, với 500 ghế hành khách và có vận tốc trung bình 15 hải lý/giờ. Theo Biểu chạy tàu đã được ký kết giữa Công ty lữ hành Quốc tế Thuyền vụ Hoàn Đảo Bắc Hải với Công ty Du lịch dịch vụ Hải Phòng Toserco, thời gian tới, mỗi tuần sẽ thường xuyên có 2 chuyến tàu du lịch Trung Quốc cập cảng Hải Phòng, góp phần tăng nhanh lượng khách du lịch quốc tế hàng năm đến với thành phố Cảng.
Thành phố Hồ Chí Minh: Xây dựng khu nhà ở du lịch – giải trí bờ sông Sài Gòn
Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa trình Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư dự án “Khu nhà ở du lịch – giải trí bờ sông Sài Gòn”. Chủ đầu tư là Công ty Quản lý và Phát triển nhà Bình Thạnh. Diện tích đất dự kiến dành cho dự án là 21 héc ta, nằm tại phường 26, quận Bình Thạnh. Vốn đầu tư ước tính là 252,79 tỷ đồng. Mục tiêu của dự án là nhằm đáp ứng nhu cầu tạo chỗ ở cho khoảng 7.000 người, đồng thời góp phần cải tạo cảnh quan bờ sông Sài Gòn.
Đà Lạt – Thành phố Hoa – Điểm hẹn năm 2000
Đó là chủ đề của Chương trình hành động du lịch và việc tổ chức các sự kiện du lịch năm 2000 vừa được Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng thông qua. Mục tiêu của chương trình này là khuyến khích, thu hút đầu tư từ ngoài tỉnh vào để phát triển du lịch, thu hút khách đến Đà Lạt, gắn kết các hoạt động văn hoá – thể thao. Hội nghị hội thảo với du lịch. Đồng thời đầu tư nâng cấp các điểm, khu du lịch để tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương.
Cần thể hiện đúng bài hát “Niềm thương mến”
Trong tiết mục âm nhạc Dấu ấn thời gian chiếu trên HTV nhiều lần hiện nay có bài hát Niềm thương mến dư luận quần cúng có ý kiến như sau:
Mục đôi song ca chú bộ đội với cô dân quân cùng hát câu: “Có những lúc nằm kề bên nhau…” là không ổn, đối với người Việt Nam nghe nó chướng tai. Một em học sinh xem xong hỏi: “Ông ơi ông, ngày trước ông đi bộ đội mà nam nữ ngủ chung với nhau hay sao mà có những lúc nam nữ nằm kề bên nhau?”
Tác giả bài hát muốn thể hiện niềm thương mến với đúng nghĩa cao đẹp của nó nói lên tình cảm gắn bó đồng chí, đồng đội trong sự nghiệp hy sinh chiến đấu bảo vệ tổ quốc, không phải là một bài hát về tình yêu đôi lứa, nhưng không biết vô tình hay hữu ý đạo diễn hạ thấp giá trị bài hát bằng cách biểu diễn dưới dạng tình yêu đôi lứa làm cho quần chúng hiểu sai, hiểu lầm nội dung bài hát thậm chí làm cho phần tử xấu lợi dụng xuyên tạc bài hát. Tại sao đạo diễn không làm: lần hát đầu có hai anh bộ đội song ca, lần hát sau thay vào hai nữ dân quân song ca thì có phải trọn vẹn và hay hơn không? Người dân bình thường cũng có thể hiểu và làm đạo diễn như thế nó mới thể hiện được thực chất đúng đắn của bài hát.
Chúng tôi đề nghị nên đạo diễn lại bài hát này cho đúng với giá trị bài hát Dấu ấn thời gian.
TM. nhiều tác giả
Mai Lâm – Tuần Du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Xóm liều ở giữa lòng Tokyo

(Bài viết của nhà báo Nhật cải trang thành dân bụi)
Trong cơn lốc suy thoái kinh tế, hàng trăm người thất nghiệp vô gia cư tụ tập thành một xóm liều trong nhà ga Sin-ju-cư ở trung tâm Tokyo. Một phóng viên cải trang thành dân cùng sống với họ vài ngày đã kể lại những gì anh chứng kiến trong “thế giới bìa các-tông”.
Tiếng động làm tôi thức giấc, mới 5 giờ kém mười. Hơn 150 người xếp hàng nối đuôi nhau ở lối ra phía tây của nhà ga Sin – ju – cư (một trong những nhà ga quan trọng nhất ở Tokyo, mỗi ngày vận chuyển hơn 360 nghìn lượt khách). Tất cả dân không nhà đến đây đều được phát mỗi người một nắm cơm. Vừa nhận xong, họ quay trở lại xếp cuối hàng hy vọng được thêm một nắm cơm nữa ! Lúc này nhà ga chưa có khách. Tôi đang ngồi ngắm cảnh phát chẩn bỗng một mùi chua gắt từ các nhà vệ sinh ở vườn hoa công cộng xộc vào mũi. Một ông già 60 tuổi xỏ đôi giày Nike màu cháo lòng đứng sững trước mặt tôi, không nói một lời đưa cho tôi một hộp cơm. Tình người “bụi đời” thật cảm động.
Lối ra phía Tây của nhà ga trông ra các tòa cao ốc lừng lững, trong đó có tòa thị chính Tokyo. Hành lang dài 300 mét và các gian trống nằm ngầm dưới đất rộng đến 16.800 mét vuông đã có từ năm 1996. Không ai biết chính xác người vô gia cư đến đây trú ngụ từ khi nào. Giờ đây, dân bụi lên tới 270 người vào ban ngày và 360 ban đêm.
Bên trái các quầy vé, chỗ trú bằng các-tông cái nọ nối cái kia, một khi đã chui vào thì khó mà có lối ra. Dân vô gia cư ngồi giải thẻ trên băng chuyền dọc lối đi, nhìn người qua lại bằng cặp mắt mơ màng. Đêm đầu tiên, tôi tìm một chỗ trong đống các-tông nhưng không được hưởng thịnh tình của kẻ cũ, tôi lại chuyển sang phía băng chuyền. Mỗi người nằm cách nhau một mét, chả ai chịu nói một lời. Họ đọc báo thể thao hoặc chiếu đôi mắt bất động vào người đi qua. 22 giờ. Bắt đầu ngả lưng. Một người khoảng 40 tuổi hỏi tôi: “Ngủ đây à?”. Anh ta đưa cho tôi ba tấm giấy bồi và bảo cách làm “tổ”. Gấp các-tông thành cái “lều vịt”, một chiều 1,6m và chiều kia 0,65m, đồ vật nào quí giá dùng làm gối. Ở đây ai có của thì tự giữa lấy. Trong góc hẹp này cũng chứa được 66 kẻ vô gia cư.
Sáng hôm sau trở dậy, lưng tôi không đến mức đau như hình dung. Định xếp lại tấm nệm các-tông thì người bạn nằm bên ngăn lại: “Mang ra kia mà vứt”. Nhìn theo hướng anh ta chỉ, một đống giấy báo đã được xếp ngăn nắp. Một nhân viên nhà ga đến xếp chúng lên xe đẩy đi. “Không ai ngủ trên đống các-tông đã được dùng rồi. Họ sợ lây chấy, rận” – anh bạn giải thích trống không. Người ta không bao giờ hỏi tên nhau. Ở đây vô danh là qui tắc. “Cậu bao nhiêu tuổi? – Ba mươi”. Không nghi ngờ gì, tôi là người trẻ nhất trong bọn họ.
Trong “xóm bụi” vẫn có người còn làm việc. Một số ngủ, số khác đọc báo, có người lẩm bẩm điều gì trong kẽ răng khi nhìn người qua lại. Tôi làm quen với một người làm nghề bán lại báo chí, truyện tranh. Anh ta mua 40 yên một số tờ báo lượm từ thùng rác nhà ga và bán lại giá 100 yên. Trên một chiếc giá bằng các-tông có treo tấm biển cũng bằng các-tông, quảng cáo rằng đây là nhà báo phát hành trong ngày ! “Càng có nhiều viên chức đi qua thì báo chí được bán chạy hơn là truyện tranh. Tôi có cả khách đặt mua thường xuyên đây”. Một ngày anh ta bán từ 100 đến 200 tờ báo, thế là lãi được 5.000 đến 1 vạn yên rồi “Gần đây tôi bị quạ (ý nói cảnh sát) tống giam và phải viết giấy cam đoan rằng không tái phạm. Khi họ hỏi địa chỉ, tôi viết: “gần bốt cảnh sát, ở lối ra phía tây của ga Sin – ju – cư.
Ngày thứ ba, tôi dậy lúc 5 giờ. Chúng tôi đi theo hướng ra tòa thị chính. Các toa – lét công cộng ở góc tòa nhà chính mở lúc 6 giờ. Buổi sáng nào anh bạn nằm bên cũng ra đây làm vệ sinh. Sau khi trải báo lên nền nhà, anh đặt lên chiếc túi đen, rút ra một chiếc khăn mặt, bánh xà phòng nhỏ, ít nước gội đầu rồi cởi áo. Anh ta lau chùi, kỳ cọ khắp người, sau đó mới đánh răng và chải tóc. Khi quay về ga, anh nói với tôi “Ông bạn trẻ ơi, tôi thật xấu hổ khi đi bên cậu. Phải sạch, dù có là một kẻ ăn mày.!”
Bình Định:
Khởi tố vụ chứa chấp mại dâm tại khách sạn Nhân Thảo
Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Bình Định vừa ra quyết định khởi tố vụ án chứa mại dâm tại khách sạn Nhân Thảo (thành phố Qui Nhơn), khởi tố 2 bị can trong vụ mua bán dâm tại khách sạn này là Nguyễn Thị Anh – Quản lý khách sạn và Tào Thị Thanh Hoa, nhân viên phục vụ. Đây là vụ chứa mại dâm bị Công an phát hiện và bắt quả tang đêm 15/7/1999 với 2 cặp nam nữ đang mua bán dâm tại khách sạn. Công an Bình Định tiếp tục điều tra làm rõ tội phạm từng người.
Nguyễn Vân-Tuần du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-Hà Nội-33(85)-1999