Lễ cất nóc nhà Thái học văn miếu Quốc Tử Giám

Nhà Thái Học là công trình xây dựng lại trên nền Quốc Tử Giám, một hạng mục quan trọng của dự án tổng thể tôn tạo di tích văn miếu Quốc Tử Giám. Nhà Thái Học khởi công từ ngày 13 tháng 7 năm 1999 được mô phỏng theo kiến trúc cổ truyền dùng vật liệu chủ yếu là gỗ lim, gạch bát, ngói mũi hài và các loại vật liệu đặc biệt khác trên nền diện tích sử dụng 1530 mét vuông. Sau thời gian khẩn trương thi công với những yêu cầu nghiêm ngặt về vật liệu, kỹ thuật đảm bảo độ bền vững, kết cấu hợp với tư liệu lịch sử ngày 11 tháng 5 năm 2000, lễ cất nóc nhà Thái Học đã được tổ chức tổng thể. Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã đến dự và cùng với đồng chí Nguyễn Phú Trọng, ủy viên bộ chính trị, bí thư thành ủy Hà Nội nhấn nút điều khiển việc cất nóc nhà hai tiền đường và hậu đường. Phát biểu tại buổi lễ tổng bí thư Lê Khả Phiêu đánh giá cao ý nghĩa của việc tôn tạo di tích văn miếu Quốc Tử Giám, xứng đáng là công trình mang tầm vóc của một quốc gia có nền văn hiến lâu đời và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là biểu hiện tình cảm đạo lý “uống nước nhớ nguồn” là trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với ông cha đã có công dự nước và giữ nước. Theo tiến độ, công trình nhà Thái Học sẽ được cơ bản hoàn thành vào tháng 9 năm 2000 nhằm đáp ứng yêu cầu là một trong những trọng điểm sẽ diễn ra các hoạt động kỷ niệm 990 năm Thăng Long Hà Nội.
Hải Phòng đưa vào sử dụng nhiều công trình mới
Ngày 19 tháng 5 tại Hải Phòng công trình trung tâm văn hóa thể thao hồ Quận Ngựa thuộc quận Ngô Quyền đã chính thức được đưa vào sử dụng phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí của hàng nghìn thanh thiếu niên. Ngoài ra Hải Phòng còn đưa vào hoạt động một số công trình như nhà máy dệt kim Hải Phòng, cầu Tiên Cựu trên quốc lộ 10 gói thầu 2 thuộc dự án nâng cấp và cải tạo mở rộng bến container Chùa Vẽ, tiếp tục khởi công dự án xây dựng khu công nghiệp Vĩnh Niệm và dự án xây dựng lễ tướng Lê Chân cùng một số hạng mục công trình thuộc dự án nâng cấp đường 10 thuộc địa phận Hải Phòng.
Đoàn thanh niên cộng sản lực lượng chi viện lớn cho công trình đường Hồ Chí Minh
Trung ương đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh vừa có công văn số 341/TƯĐTN chỉ định cho ban thường vụ các tỉnh, thành đoàn và các đoàn trực thuộc về việc tổ chức chương trình thanh niên tình nguyện xây dựng và chi viện tuyến đường Hồ Chí Minh. Theo tinh thần của nội dung công văn này, thường vụ 19 tỉnh, thành đoàn có đường Hồ Chí Minh đi qua được quyền chủ động huy động và ký hợp đồng cung ứng lao động thanh niên cho các đơn vị thi công, ký hợp đồng nhận khoán gọn các công đoạn, phối hớp với sở nông nghiệp và phát triển nông thôn xây dựng đường và chăm sóc rừng hai ven đường, phối hợp với sở xây dựng dự án làng Thanh Niên các dân tộc dọc tuyến… Trung ương đoàn sẽ trực tiếp bố trí phân bổ lực lượng một cách hợp lý tùy theo khả năng huy động lực lượng và nhu cầu cụ thể của từng đoạn đường.
Hỏa Tiễn-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(133)2000.

Non nước qua bước chân của nữ sĩ họ Hồ

Là một tài nữ uyên bác nên dù Xuân Hương không qua Trung Hoa mà thơ nàng vẫn có thể đưa hồn ta du lãng vào những cảnh núi sống chan chứa tình người ở phương Bắc xa xôi. Đọc thơ nàng, ta được “nghe sầu trên sông Tương, nén nỗi buồn dưới núi Thục”, theo Sở Vương đi chơi Vu Sơn, say đắm với thần nữ. Tuy vậy, sông núi chủ yếu trong thơ Xuân Hương là sông núi của nước non Việt. Những sông núi Việt có trong thơ, tức là Thăng Long rồi đến các vùng gần kề sâu tình nặng nghĩa như chùa Quán Sứ, đền Sầm Nghi Đống rồi chùa Hương Tích, sông Hoàng Giang (gần thành Cổ Loa, sát Thăng Long)…mà nàng đã khẳng định:
“Cạn dòng Tô Thủy còn duyên nợ
Đẩy giọt Hoàng Giang những ái ân”….sau đó mới tới các vùng xa hơn.
Sinh ở Tây Hồ, nhưng từ thuở nhỏ, Xuân Hương từng sống ở quê cha: làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Cho nên, nàng được du lãng vào một vùng nước biếc non xanh xứng đáng với hàng loạt tên đặt lóng lánh như ngọc Quỳnh, ngọc Lưu…. (nay Quỳnh Lưu còn mấy chục xã mang tên “Quỳnh” ở đầu).
Từ đất Quỳnh ra Bắc, Xuân Hương đến với Tam Điệp giáp với Thanh Hóa – Ninh Bình với cái tên Ba Dội thân quen: “Một đèo, một đèo, lại một đèo”….Nàng còn đến với Kẽm Trống “Hai bên là núi giữa là sông” với cảnh sống động: “Gió giật sườn non khua lắc cắc. Sóng dồn mặt nước vỗ long bong”.
Xuân Hương còn đến với Hải Dương quê mẹ thân thương nên tiện dịp qua Đồ Sơn viết “Đồ Sơn bát vịnh”.
Năm 1814, Xuân Hương nói với Tốn Phong Thị:
“Được lứa tài tình cho xứng đáng
Nghìn non muôn nước cũng tìm theo”
“Lứa tài tình” đó là Trần Phúc Hiển, tri phủ Tam Đái (vùng đất lúc đó chưa gọi là Vĩnh Tường). Sau Phúc Hiển được thăng chức Tham hiệp Yên Quảng. Theo chàng, nàng có dịp qua Bạch Đằng Giang càng rõ hơn cảnh tượng vĩ đại có sức chống ngoại xâm của “nhất to sông Rừng”. Về Yên Quảng với chàng là nàng về với “nghìn non muôn nước”: Hạ Long – một vùng biển tập trung hàng nghìn đảo đá với cái tên cổ “vũng Hoa Phong”, được Xuân Hương tả bằng 5 bài thơ chữ Hán. Bài “Độ Hoa Phong” cho thấy Xuân Hương vượt vịnh Hạ Long, mơ tới một thủy tinh cung lộng lẫy. Bài “Trạo ca thanh” cho thấy nàng: “Xa ngóng chân trời non lẫn nước – Bỗng nghe chèo hát trỗi đâu đây”. Bài “Nhãn phóng thanh” cho thấy giữa cảnh “Bể xanh lấp lánh tận trời xa” nàng mơ màng “Đây ngỡ màu xanh mắt tỏa ra”. Bài “Thủy vân hương” đưa Xuân Hương về chốn nước mây, vui chuyện về chàng thuyền chài với một lá thuyền tìm về cảnh tiên bồng. Bài “Hải ốc trù” cho thấy nàng tùy thích cưỡi thuyền trên biển, cảm nhận kỳ công dựng cột đá chống trời, xây cung điện dưới biển của các thủy thần. Với chí khí lẫm liệt ấy, Xuân Hương càng tự hào với một nước non hùng tráng tự chủ mà đến bậc đế vương lỗi lạc nhất của Trung Hoa cũng không làm gì được: “Dấu ngựa Thủy Hoàng không đến được – Trời dành để giữ đất người Nam”. Bên cạnh các danh nhân lừng lẫy như Trần Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Trịnh Cương thì Hồ Xuân Hương là nhà thơ nữ đầu tiên lãng du, viết những vần thơ hùng tráng nhất về vịnh Hạ Long. Đây cũng là giai đoạn thỏa mãn nhất trong kiếp đời “bảy nổi ba chìm” của nàng. Nếu Trần Phúc Hiển không bị tội tử hình vào năm 1819 thì hẳn Xuân Hương còn tiếp những vần thơ “gió mây trăng móc” ở nơi “nghìn non muôn nước” ấy.
Đinh Công Vĩ – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Vào đầu thế kỷ 21, du lịch Hà Nội sẽ ở trên một tầm cao mới – Phần 5

Sự bình chọn của UNESCO đối với Thủ đô Hà Nội cũng chính là sự ghi nhận truyền thống lịch sử, văn hóa của nhiều thế hệ các dân tộc Việt Nam cũng như những thành tựu của nhân dân Thủ đô trong lĩnh vực phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế. Những thành tựu đó trước hết bắt nguồn từ truyền thống lịch sử lâu đời của Thủ đô Hà Nội.
Chúng ta rất vui mừng vì cùng với “Giải thưởng UNESCO – Thành phố vì Hòa bình”, sắp tới tại Pari, UNESCO sẽ chính thức ký kết với Việt Nam chương trình trợ giúp tu sửa, tôn tạo những di tích lịch sử, văn hóa của Thủ đô. UNESCO cũng sẽ tham gia một số hoạt động kỷ niệm 990 năm và 1000 năm Thăng Long lịch sử. Tất cả những sự kiện trên chắc chắn sẽ tạo sức hấp dẫn mới cho Thủ đô Hà Nội. Với tấm lòng mến khách của người Hà Nội, với cảnh quan thiên nhiên và kiến trúc hấp dẫn của một Thủ đô gần 1000 năm tuổi, ngày nay lại là “Thành phố vì hòa bình”, chắc chắn Hà Nội sẽ là nơi hội tụ khách tham quan từ mọi miền đất nước và bạn bè quốc tế.
Phóng viên; Xin đồng chí phác thảo diện mạo Du lịch Thủ đô khi Thăng Long vừa tròn ngàn tuổi?
Đ/c HVN: Do xác định đúng vị trí của ngành Du lịch trong tiến trình phát triển kinh tế của Thủ đô cũng như yêu cầu về tầm vóc ngành Du lịch Thủ đô trong sự phát triển ngành Du lịch của cả nước, thành phố Hà Nội đã xây dựng chương trình phát triển mạnh mẽ ngành Du lịch với những bước đi thích hợp. Theo chương trình đó, đến năm 2010 Hà Nội sẽ có một hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch như: các tổ hợp khách sạn, các Trung tâm hội nghị, hội thảo quốc tế, các điểm vui chơi giải trí, các danh lam thắng cảnh, di tích văn hóa lịch sử được nâng cấp và tôn tạo. Hà Nội sẽ có đội ngũ cán bộ tinh thông về từng lĩnh vực của du lịch hiện đại, phong phú và hấp dẫn, làm cho Hà Nội gắn liền hơn với cả nước và bạn bè quốc tế. Theo dự tính, Hà Nội sẽ đón 2 triệu khách du lịch nội địa, đưa tỷ trọng của du lịch chiếm 10 – 12% tổng GDP của toàn thành phố. Và, điều quan trọng trên hết là Du lịch Thủ đô sẽ ở trên một tầm cao mới với chất lượng hoàn hảo, làm cho du khách qua mỗi chuyến đi thêm mến yêu Hà Nội và mong muốn có nhiều cơ hội trở lại.
Phóng viên: Xin cảm ơn đồng chí!
Trường Đinh – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Vào đầu thế kỷ 21, du lịch Hà Nội sẽ ở trên một tầm cao mới – Phần 4

Phóng viên: Đồng chí có suy nghĩ gì khi có người nói rằng, để xứng đáng là một trung tâm Du lịch lớn của cả nước, Hà Nội phải nhanh chóng trở thành một “đại công viên” có tầm cỡ quốc gia và khu vực? Và để thực hiện được điều đó, thành phố sẽ có hướng và biện pháp đầu tư ra sao?
Đ/c HVN: Nét đặc trưng của Thủ đô Hà Nội là một thành phố có rất nhiều hồ tự nhiên với nhiều công viên và cây xanh, trong đó có những nơi rất nổi tiếng như Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Bảy Mẫu v.v… Trong những năm vừa qua, cùng với quá trình đô thị hóa, thành phố đã đầu tư rất nhiều vào việc sửa sang, nâng cấp các khu công viên, trồng thêm nhiều cây xanh. Nhiều hồ của Hà Nội đã được cạp bờ, làm đường dạo, tạo thảm cây xanh để nhân dân có nơi vui chơi, giải trí. Trong những năm gần đây, với phong trào giữ gìn Thủ đô “xanh, sạch, đẹp”, bộ mặt Thủ đô đã có nhiều đổi khác. Quy hoạch trồng cây xanh dọc theo từng tuyến đường, dọc theo các sông, mương thoát nước và trên các thảm đất trống đang được triển khai. Trên địa bàn Hà Nội hiện có trên 200.000 cây xanh, trên 30 vườn hoa, công viên với gần 400 ha thảm đỏ. Tuy nhiên so với một số thành phố trong khu vực, lượng cây xanh của Hà Nội chưa lớn.
Trong chương trình kỷ niệm 990 năm và 1000 năm Thăng Long cũng bao gồm nội dung xây dựng các khu công viên cây xanh, các khu vui chơi giải trí lớn như khu công viên Thanh Nhàn, công viên Hồ Yên Sở, khu công viên với vườn thú bán hoang dã Mễ Trì, công trình kè bờ, làm đường dạo, trồng thảm cây xanh xung quanh kết hợp xử lý nước Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch, biến nơi đây thành một nơi nghỉ ngơi lớn của nhân dân Thủ đô cũng như của khách du lịch.
Đến năm 2000 sẽ có thêm một số khu công viên cây xanh kết hợp vui chơi giải trí được đưa vào sử dụng như khu vui chơi giải trí Hồ Tây, tổ chức vui chơi giải trí Minh Trí (Sóc Sơn), công viên Nghĩa Đô, hồ Ngọc Khánh, công viên Tuổi Trẻ, công viên Đống Đa, khu Thể thao đua ngựa Mễ Trì v.v…
Phóng viên: Việc thành phố Hà Nội vừa được UNESCO trao tặng “giải thưởng UNESCO – Thành phố vì Hòa bình”. Đây là vinh dự và niềm tự hào không những của nhân dân Thủ đô mà là vinh dự to lớn của nhân dân cả nước. Đây là sự đánh giá chính thức của một tổ chức quốc tế có uy tín lớn đối với truyền thống yêu nước, khát khao tự do độc lập, hòa bình của toàn thể nhân dân Việt Nam.
Trường Đinh – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Vào đầu thế kỷ 21, du lịch Hà Nội sẽ ở trên một tầm cao mới – Phần 3

Người Việt Nam nói chung cũng như người thủ đô Hà Nội nói riêng yêu mến Hà Nội với tình cảm thiết tha, sâu lắng trước hết từ tình cảm hướng về cội nguồn, nơi có lăng Bác Hồ, quảng trường Đa Đình lịch sử, nơi làm việc của Trung ương Đảng và Chính phủ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao lưu quốc tế của cả nước. Tuy nhiên, cũng không phải nhiều người Việt Nam, kể cả người dân Hà Nội đã thật sự có hiểu biết đầy đủ và sâu xa về thủ đô Hà Nội, nhất là những hiểu biết về lịch sử anh hùng của cha ông trong quá khứ, những truyền thuyết mang tính huyền thoại của nhiều di tích lịch sử, những nét đẹp về bản sắc văn hóa… cần phải giữ gìn và phát huy. Vì vậy, ngành Du lịch phải đóng vai trò quan trọng cùng với các ngành khác làm tốt công việc này. Trước hết, ngành Du lịch phải đào tạo được đội ngũ đông đảo những người làm công tác du lịch có hiểu biết rất sâu sắc về lịch sử, về những đặc điểm văn hóa đặc sắc của thủ đô, từ đó mới truyền thụ lại được cho mọi người qua các hoạt động du lịch, vui chơi giải trí. Những đặc điểm về lịch sử, văn hóa của thủ đô cũng phải thể hiện được từ khâu quy hoạch, kiến trúc, sắp xếp bố trí nội dung các nơi du lịch, tham quan giải trí. Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch gắn với các nội dung về lịch sử, văn hóa của thủ đô cũng cần phải tiến hành hết sức sâu rộng và tận dụng mọi hình thức, mọi phương tiện thông tin đại chúng với những hình thức nhẹ nhàng nhưng súc tích mang đậm tính văn hóa, tính nhân văn.
Trong chương trình kỷ niệm 990 năm và 1000 năm Thăng Long lịch sử, nội dung truyền thuyết về cội nguồn, về lịch sử, văn hóa đặc trưng của Thủ đô là nội dung quan trọng hàng đầu, đòi hỏi sự đóng góp của nhiều ngành, nhiều cấp, trong đó với chức năng của mình, ngành Du lịch chắc chắn sẽ đóng góp phần quan trọng.
Hiện tại ngành du lịch Thủ đô đã triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền chương trình phát triển du lịch Thủ đô hướng tới kỷ niệm 990 năm và 1000 năm Thăng Long. Cuộc Liên hoan ngành Du lịch được tổ chức tại Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng Thủ đô chắc chắn sẽ là cơ hội để ngành du lịch Thủ đô giao lưu rộng rãi, học tập những kinh nghiệm thành công của các đơn vị khác, đưa ngành Du lịch thủ đô tiến lên một giai đoạn mới, xứng đáng là một trong ba trung tâm du lịch lớn nhất của cả nước.
Trường Đinh – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Vào đầu thế kỷ 21, du lịch Hà Nội sẽ ở trên một tầm cao mới – Phần 2

Phóng viên: Hà Nội đang tiến đến kỷ niệm 990 năm 1000 năm Thăng Long. Rõ ràng là so với nhiều nơi khác, du lịch Hà Nội có lợi thế rất lớn bởi được phát triển trên một vùng đất có bề dày văn hóa, lịch sử… Vậy theo đồng chí trong những năm qua Du lịch Hà Nội đã khai thác đúng mức các thế mạnh nhà chưa?
Đ/c HVN: Với bề dày lịch sử gần 1000 năm tuổi, Hà Nội là nơi tập trung nhiều nhất những di tích lịch sử, văn hóa mang đậm bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam. Hiện nay Hà Nội có trên 2500 di tích lịch sử và văn hóa, trong đó có trên 500 di tích đã được xếp hạng, chiếm 19,4% số di tích của cả nước. Hà Nội lại là thủ đô – Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật, là đầu mối giao lưu của cả nước. Những yếu tố trên là những lợi thế rất quan trọng của ngành Du lịch Thủ đô và trong những năm qua đã từng bước được khai thác. Trong chương trình chuẩn bị 990 năm Thăng Long – Hà Nội vào năm 2000 và 1000 năm Thăng Long – Hà Nội vào năm 2010 nhiều di tích lịch sử, nhiều công trình văn hóa sẽ được sửa sang, tôn tạo. Trong số đó có các công trình lớn như Khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hồ Văn, Khu Thành Cổ, Khu di tích lịch sử Cổ Loa, tượng đài Lý Công Uẩn và hệ thống tượng đài lớn trên địa bàn Thủ đô. Thành phố cũng xây dựng thêm các khu vui chơi giải trí lớn như công viên Yên Sở, Công viên và khu vườn thú Mễ Trì, các khu vui chơi giải trí ở Hồ Đống Đa, Hồ Tây v.v… Những công trình đó chắc chắn sẽ được khai thác phục vụ cho mục đích tham quan du lịch, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cho nhân dân Thủ đô, cho đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế. Ngành du lịch của Thủ đô Hà Nội sẽ có cơ hội vươn lên một tầm cao mới, góp phần quan trọng vào tốc độ phát triển kinh tế của Thủ đô.
Phóng viên: Nhiều người cho rằng, ngay những người đang sống và làm việc tại Hà Nội, thậm chí cả những người gốc Hà Nội vẫn hiểu về Hà Nội còn quá ít, liệu thành phố và ngành du lịch Thủ đô có cách gì để góp phần khắc phục tình trạng này?
Đ/c HVN: Thủ đô Hà Nội – trái tim của cả nước, là nguồn cảm hứng sâu xa cho biết bao văn nghệ sĩ để sáng tạo nên những tác phẩm văn học, những tập tranh, ảnh nghệ thuật, những bản nhạc, những bài ca v.v… viết về lịch sử, văn hóa, về những danh lam thắng cảnh, những tập tục cũng như những đặc điểm rất riêng trong tính cách của con người Hà Nội thanh lịch.
Trường Đinh – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Vào đầu thế kỷ 21, du lịch Hà Nội sẽ ở trên một tầm cao mới – Phần 1

LTS: Hà Nội đang tưng bừng với nhiều hoạt động thiết thực để tiến tới kỷ niệm 990 năm và 1.000 năm Thăng Long. Hòa vào không khí đó, ngành Du lịch Thủ đô đang triển khai nhiều hoạt động tích cực mà nổi bật là việc tổ chức Liên hoan Du lịch Hà Nội vào giữa mùa thu này. Nhân dịp này, phóng viên báo Tuần Du Lịch phỏng vấn đồng chí Hoàng Văn Nghiên, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về những vấn đề liên quan đến sự phát triển của Du lịch Thủ đô.
Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn:
Phóng viên: Thưa đồng chí, là một trong những ngành quan trọng của thành phố, vậy Du lịch Hà Nội có vị trí, vai trò ra sao trong nền kinh tế xã hội của Thủ đô?
Đ/c HVN: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Khi kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân được nâng cao, nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí sẽ ngày càng trở nên rất cấp bách. Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XII (1996) đã xác định Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Thủ đô. Trong nghị quyết số 11 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội (tháng 8 năm 1998) về “Đổi mới và phát triển Du lịch Thủ đô đến năm 2010 và những năm sau” cũng khẳng định ngành Du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Thủ đô vào thập niên đầu của thế kỷ 21, xứng đáng với vị trí là một trong ba trung tâm du lịch lớn nhất của cả nước.
Ngành du lịch trước hết góp phần đáng kể trong việc chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế, tăng nhanh tỷ lệ thành phần du lịch, dịch vụ, thương mại. Khi biết tổ chức và khai thác hết được mọi tiềm năng sẵn có thì du lịch sẽ là ngành kinh tế đầu tư có hiệu quả cao, nhanh thu hồi vốn để có điều kiện tái cơ cấu mở rộng. Ngành du lịch phát triển sẽ giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động. Với việc trùng tu và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa của dân tộc, thông qua du lịch, chúng ta có điều kiện để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước về truyền thống lịch sử và nền văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam cũng như những thành tựu trong công cuộc xây dựng và triển khai cả nước ta trong giai đoạn hiện nay. Ngành Du lịch cũng là cầu nối để mở rộng giao lưu giữa Hà Nội với cả nước, với bạn bè trong khu vực và trên thế giới, đẩy nhanh quá trình hội nhập, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.
Trường Đinh – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Thương mại – Du lịch cùng chung một nhà

LTS: Để tìm hiểu kế hoạch triển khai Pháp lệnh Du lịch, Chương trình Quốc gia về Du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000 của các Bộ, ngành liên quan, thời gian qua Báo Tuần Du lịch đã có những cuộc tiếp xúc với các thành viên của Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch. Với ngành Thương mại, Tuần Du lịch đã đề nghị được tìm hiểu xung quanh 3 vấn đề:
1-Có người nói rằng trong các Sở Thương mại – Du lịch chỉ có thương mại được coi trọng, còn du lịch được sao hay vậy, và gọi nó một cách hài hước là Sở Thương mại “trừ” Du lịch. Chuyện đó thực hư như thế nào?
2-Mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau giữa “Thương mại và Du lịch”? Xin cho biết những kết quả cụ thể trong thời gian qua như: tổ chức hoạt động của ngành Thương mại tại các điểm du lịch, khách du lịch tiêu thụ hàng hóa của ngành Thương mại, doanh thu của thương mại trong các mùa du lịch hằng năm….
3-Ngành Thương mại đã có những phương hướng phối hợp hoạt động với ngành Du lịch thế nào trong thời gian sắp tới. Nhất là việc chuẩn bị cho các sự kiện Du lịch năm 2000?
Trả lời những vấn đề trên Thứ trưởng Lương Văn Tự đã dành cho Báo Tuần Du lịch bài viết dưới đây. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Du lịch là một ngành kinh tế, ngành kinh doanh dịch vụ và là một bộ phận hợp thành của kinh tế đối ngoại, có quan hệ mật thiết với hoạt động thương mại. Vì sự gắn bó đó nên được mệnh danh là ngành công nghiệp không có ống khói. Trong lịch sử hình thành và phát triển ngành thương mại và du lịch đã từng một đôi lần cùng chung trong một bộ máy quản lý nhà nước cấp dưới hình thành Sở Thương mại và Du lịch. Ý kiến cho rằng: Trong các Sở Thương mại – Du lịch chỉ có Thương mại được coi trọng còn Du lịch được sao hay vậy là không đúng. Trong chiến lược và thực tiễn phát triển kinh tế của các địa phương, tùy theo thế mạnh của địa phương để tập trung vốn và các nguồn lực vào phát triển lĩnh vực đó. Địa phương nào có thế mạnh về du lịch thì tập trung phát triển du lịch như Ninh Bình, Lào Cai, Bình Thuận v.v… Năm 1998 Bình Thuận đã đầu tư vào du lịch 79,4% tổng mức đầu tư vào ngành thương mại và du lịch. Các địa phương có cảng biển, có nhiều nguồn hàng xuất khẩu thì họ ưu tiên khai thác thế mạnh này. Nhưng để các địa phương đi lên nhanh thì lãnh đạo các tỉnh cần phát huy cả thế mạnh của mình và biết tạo ra thế mạnh mới. Sự phát triển nhịp nhàng giữa thương mại và du lịch sẽ hỗ trợ lẫn nhau và tăng nguồn thu, tạo thêm việc làm mới cho địa phương. Cho đến nay vẫn còn 47 trong số 61 địa phương duy trì Sở Thương mại và Du lịch, Đồng thời trong lĩnh vực hoạt động Công đoàn, trên phạm vi toàn quốc, các Công đoàn cơ sở của Ngành Thương mại và Ngành Du lịch vẫn hoạt động chung trong một tổ chức Công đoàn ngành Thương mại và Du lịch Việt Nam.
Thực tiễn quá trình phát triển đã chứng minh, hoạt động thương mại – du lịch và hoạt động du lịch gắn bó đan xen, kích thích và làm tiền đề cho nhau cùng phát triển vì lợi ích chung của đất nước và của từng địa phương. Không thể hình dung các sản phẩm du lịch được thực hiện lại thiếu vắng các hoạt động thương mại dịch vụ kèm theo. Ngược lại, khi hoạt động thương mại dịch vụ được mở mang, được tổ chức chu đáo văn minh lịch sự lại không cuốn hút khách du lịch.
Xây dựng mạng lưới bán hàng cho khách du lịch từ sân bay, khách sạn đến khu du lịch. Tạo ra nhiều mặt hàng phong phú về chủng loại, mang nặng văn hóa dân tộc, đẹp và giá thành cạnh tranh. Năm 1997 ta đã đón 1,7 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, ngoài ăn ở đi lại nếu ta bán được cho mỗi người khách hàng hóa trị giá 100 USD thì mỗi năm thông qua khách du lịch nhà nước có thể xuất khẩu một lượng hàng trị giá một đến hai trăm triệu USD. Chưa kể trong số khách du lịch có những người sẽ trở thành các bạn hàng lâu dài của Việt Nam, sau ấn tượng đẹp của một chuyến du lịch.
Là thành viên trong Ban Chỉ đạo Nhà nước về du lịch, Bộ Thương mại rất hoan nghênh chương trình hành động quốc gia về du lịch và dự kiến du lịch năm 2000 do ngành du lịch đề ra và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Thương mại sẽ cùng với các tỉnh chỉ đạo các Sở Thương mại và Du lịch đi bằng hai chân tổ chức thực hiện tốt chương trình này.
Ngành Thương mại sẽ từng bước hướng dẫn các nhà sản xuất tạo ra nhiều mặt hàng phong phú để bán cho khách du lịch; cùng với ngành Du lịch hoàn chỉnh các chính sách liên quan đến xuất khẩu dịch vụ nói chung và du lịch nói riêng.
Nhân dịp này, xin chúc Báo Tuần Du Lịch ngày càng phát triển trở thành người bạn thân thiết trong gia đình Du lịch Việt Nam và xin thông qua Tuần báo được gửi lời chào và chúc mừng tốt đẹp nhất tới tất cả bạn đọc.
Lương Văn Tự – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Chống buôn lậu ở Bắc Giang “Người trong cuộc còn thiếu “gậy””

Dân buôn đông, mánh khóe nhiều, địa bàn thuận lợi nên từ lâu, tỉnh Bắc Giang (BG) chưa bao giờ “hạ nhiệt độ” về buôn lậu. Không sát biên giới, không kề cận Hà Nội, nhưng BG là điểm giao thoa quan trọng giữa các tỉnh biên giới với thủ đô và đất cảng. Nói không qua lời, BG là điểm trung chuyển hàng rất lý tưởng cho dân buôn lậu!
Chuyện tự kể của dân buôn
Muốn bắt à, xin lỗi, có mà bắt “vào mắt !” – người phụ nữ tên Vang chuyên nghề tẩu tán hàng lậu ở BG bĩu môi, xách mé lên lớp cho chúng tôi. “Cứ vây đi, cứ bắt đi – Vang nói tiếp – đàn bà bọn chị không thiếu cách: nhẩy vào ôm chặt lấy người, thằng nào đẩy nhẹ một cái là nằm ra ăn vạ… Lúc đó thì nhiều chuyện lắm !” “Quái chiêu” kể trên mới chỉ là một ngón nghề. Dân buôn lậu ở BG còn vô số “độc thủ” khác mà các lực lượng chống buôn lậu khi gặp phải chỉ còn mỗi nước ngậm ngùi nhìn hàng lậu đổ về xuôi. Để lọt hàng, dân buôn ở BG không từ một thủ đoạn gì. Tinh vi như “làm luật” cho lực lượng chức năng, quay vòng tem dán và hóa đơn bán hàng… Tàn nhẫn như dùng bạo lực, hành hung người làm nhiệm vụ. Tuấn – một “đại bàng” ở BG nói với chúng tôi: “Tất nhiên, việc bắt hàng là trách nhiệm của “bọn nó”, nhưng thằng nào làm ác quá thi bọn tôi cũng phải “chơi” ! Nghe quả là đáng sợ.
Dân buôn lậu ranh ma thừa hiểu một điều:Bắt hàng lậu không gì dễ bằng bắt tại điểm đỗ hàng. Vì vậy, hàng lậu qua tỉnh luôn ở trạng thái lưu thông. Tinh quái hơn, phương tiện vận chuyển không đi xe to, chỉ đi xe nhỏ như 4 chỗ, 12 chỗ cho dễ chạy. Thêm nữa, các loại xe này được thiết kế lại để giấu hàng cho kín đáo. “Tính trung bình boa nhiêu chuyến “đi hàng” thì mất một ?”. H.L.V – một tay buôn cỡ bự ở BG đáp lời: “Cũng khó nói, nhưng tôi đi hàng thì ước khoảng 20 chuyến “đổ” một chuyến”. Rõ ràng tỷ lệ đó là “thắng lớn” đối với dân buôn lậu.
Tóm lại, đối với dân buôn lậu ở BG có đủ loại. Nghèo rớt thì tham gia giải cứu, tẩu tán hàng bị bắt. Khá hơn thì có xe ôm chạy hàng lẻ về. Còn nhiều tiền thì đánh hàng biên giới đưa về Hà Nội. Dân buôn đông, thu lời lớn… xem chừng buôn lậu ở BG vẫn còn đất “dụng võ” cho các “anh hào” hành nghề… buôn lậu !
Nỗi niềm người trong cuộc
Trong buổi làm việc với chúng tôi, ông Dương Trọng Tài. Giám đốc Sở Thương mại – Du lịch Bắc Giang khẳng định: “Muốn chống buôn lậu có kết quả, Ban 853 của tỉnh có một “cái gậy”. Vậy “cái gậy” mà ông Tài nói hiện ở tình trạng như thế nào ? Trên thực tế, BG hiện nay có 3 lực lượng tham gia chống buôn lậu là: Công an, Quản lý thị trường và ngành Thuế. Mỗi cơ quan có một chức năng, nhiệm vụ riêng, nhưng cả 3 lực lượng này đều có thể “hành quyết” hàng nhập lậu. Tuy nhiên, xét về đặc thù buôn lậu tại BG thì cảnh sát giao thông (CSGT) hiện có nhiều “đặc quyền” thì đương nhiên sinh “đặc lợi”. Mọi chuyện “lục đục” trong công tác chống buôn lậu phần lớn bắt nguồn từ đây. Theo qui định hiện hành, chỉ có CSGT mới có quyền dừng phương tiện giao thông đang chạy trên đường. Trong khi đó, BG là địa bàn trung chuyển của hàng lậu nên dân buôn rất ít khi tập kết hàng mà chủ yếu là cho hàng lên ô tô chạy qua tỉnh. “Qua sông phải lụy đò, cả QLTT, lẫn Thuế, muốn dừng xe nào lại đều phải “lụy” CSGT. Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như sự phối hợp giữa các lực lượng chức năng diễn ra suôn sẻ. Nhưng khổ nỗi, một ngày bên CSGT chỉ cấp cho mỗi cơ quan trên… một lệnh dừng xe. Vậy là vô hình chung, hàng lậu chỉ còn một “cửa tử” duy nhất là CSGT. Và đương nhiên, những trục trặc của chính các lực lượng chức năng đã khiến cho dân buôn luôn ở trong tư thế “ngư ông đắc lợi” mà tiếp tục “vô tư” chuyển hàng…
Để hình dung một cách hình tượng nhất về buôn lậu và chống buôn lậu ở BG thì hàng lậu như cá trong một khúc sông chảy qua một điểm nút có tấm lưới vá chằng, vá đụp chắn ở đó. Hàng dính ở đâu thì coi như chết ở đó, còn chỗ nào qua được thì do nhiều nguyên nhân như người vừa thiếu lại vừa yếu, phương tiện không đầy đủ, chính sách có kẽ hở và tất nhiên là cả tiêu cực nữa. Ông Dương Trọng Tài, Giám đốc Sở Thương mại – Du lịch từng nói, “Điều dở nhất là các lực lượng chuyên ngành ở đây thiếu sự tôn trọng ý kiến của Ban 853. Cứ mạnh ai nấy làm, mà như vậy thì…
Bài toán vẫn còn nan giải
Chúng tôi có mặt tại trụ sở đội QLTT số 1 đúng vào lúc nhân viên ở đội bắt được hàng lậu. Đó là 1 tấn đường Trung Quốc của chủ buôn Thiều Thị Thanh. Chủ hàng tráng mặt chỉ cho người nhà ra làm thủ tục. Tay “người nhà” này sau khi hoàn tất mọi việc vẫn giữ nguyên nét mặt bình thản và bảo “phải về mổ gà ăn mừng”. Hỏi sao lại có chuyện ngược đời như vậy thì tay này giải thích “Mất người mới là quan trọng chứ mất hàng chỉ là chuyện nhỏ. Mất rồi sẽ lấy lại, bởi buôn lậu gỡ nhanh lắm mà !”
Hiện tượng này còn tồn tại phải chăng Ban 853 ở Bắc Giang thiếu một “cây gậy” quyền uy theo đúng nghĩa đen của nó ?.
Sơn Long-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Du lịch Lào và những triển vọng hợp tác

LTS: Chuyến thăm và làm việc tại Lào từ ngày 22-25/8/1999 của Đoàn đại biểu Du lịch Việt Nam do Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng dẫn đầu đã mở ra một triển vọng hợp tác cho ngành Du lịch hai nước. Hai bên đã ký kết văn bản về Chương trình hợp tác du lịch với những nội dung cụ thể: trao đổi đoàn cán bộ giai đoạn1999-2000, trao đổi kinh nghiệm quản lý và phát triển du lịch;trao đổi tài liệu thông tin du lịch; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hợp tác kinh doanh và xây dựng chương trình du lịch chung; đào tạo nhân lực du lịch cho Lào. Nhân dịp này Tuần Du Lịch xin giới thiệu đôi nét về ngành Du Lịch của đất nước hoa Chăm-Pa và những triển vọng hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực Du Lịch.
Du Lịch Ngành kinh tế hiệu quả nhất của Lào
Trong số các ngành kinh tế hàng đầu của Lào thì Du Lịch hiện đang vươn lên đứng đầu về hiệu quả kinh doanh. Năm 1997 ngành sản xuất, khai thác và chế biến gỗ đạt 79,3 triệu USD, ngành Du Lịch thu 73,3 triệu USD may mặc 72,6 triệu USD, nông ngiệp đạt 16,5 triệu USD. Đến năm 1998 ngành Du Lịch Lào thu tới 79,9 triệu USD, ngành may mặc đạt 76,5 triệu USD, điện tử 49,6 triệu USD, ngành sản xuất gỗ đạt 41,2 triệu USD.
Hiện nay Lào có 18 đơn vị kinh doanh du lịch quốc tế, không có doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa. Cơ quan du lịch quốc gia Lào nằm trong bộ Thương mại – Du lịch, hiện có gần 10 vụ chức năng, trong đó có chức năng cảnh sát du lịch. Khách du lịch quốc tế đến nước Lào theo đường hàng không chủ yếu qua 2 sân bay Vạt – tày và Luông Phrabăng. Khách đường bộ thường qua các cửa khẩu với các nước có chung biên giới như Việt Nam, Campuchia, Trung Quốc, Thái Lan, và Mi-an-mar. Nhờ những cải tiến thông thoáng về thủ tục xuất nhập cảnh, đặc biệt là việc cho phép công dân ở các nước láng giềng có chung đường biên giới có thể vào thăm Lào bằng giấy thông hành biên giới (Border Pass), nên lượng khách quốc tế đến thăm Lào đã tăng đáng kể. Năm 1997, du lịch Lào đón 463.200 lượt khách quốc tế, trong đó khách từ các nước ASEAN – Thái Bình Dương là 403.781 lượt người, sang năm 1998, Du lịch Lào đón được 500.200 lượt khách quốc tế thì có tới 421.196 lượt khách là từ thị trường ASEAN – Thái Bình Dương.
Trên toàn bộ đất Lào có gần 10.000 phòng khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ trong đó có 5.000 phòng đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế. Giá buồng nghỉ trung bình từ 20-25 USD/phòng/ngày.
Lào tổ chức buổi lễ “Năm du lịch Lào 1999-2000” (Visit Laos Year 1999-2000) chính thức từ ngày 18-23/11/1999 với dự kiến có khoảng 75 đại diện du lịch quốc gia và các tổ chức đu lịch thế giới tham dự. Đây là một cơ hội để thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp không ống khói của lào.
Những triển vọng hợp tác
Do có chung đường biên giới nên hiện đã có 53 đơn vị du lịch của Việt Nam ký kết hợp đồng trao đổi khách với các đơn vị du lịch Lào. Lượng khách du lịch Việt Nam đi thăm Lào đã tăng rất nhanh. Từ 92 khách năm 1993 lên mức gần 80.000 khách trong năm 1997 và 1998.
Hiện nay hiệp hội ASEAN đang hoạch định chính sách xây dựng một tổng thể ASEAN riêng để có vị thế đối với các châu lục khác. Từ ý tưởng này, việc hợp tác du lịch giữa Việt Nam – Lào – Campuchia sẽ có một giá trị đặc biệt. Cả ba nước cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, có nhiều tiềm năng du lịch hấp dẫn riêng và khi bổ sung cho nhau sẽ tạo thành một khu vực du lịch với đủ các loại hình cùng nhiều sản phẩm du lịch đa dạng. Để đưa những ý tưởng này thành hiện thực trước mắt cần nghiên cứu và sớm triển khai những chương trình hợp tác sau:
Tăng cường trao đổi thông tin về du lịch giữa hai nước Việt – Lào (và Campuchia); những thông tin về kinh nghiệm, quản lý, và phát triển du lịch, phù hợp với đề nghị của phía bạn Lào.
Xúc tiến cùng phía Lào mở tuyến du lịch liên hoàn với 3 loại hình cơ bản.
Tuyến du lịch bằng xe ô tô tay lái nghịch.
Tuyến du lịch đường bộ liên hoàn: Viên Chăn – Đà Nẵng – Huế – Gia Lai – Đắk Lắk – Savanakhet – Viên chăn và ngược lại.
Tuyến du lịch mới qua đường hàng không: Luang Phara-bang – Điện Biên Phủ – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và ngược lại. Hoặc từ Luang Phra-bang – Điện Biên Phủ – Hà Nội, Đà Nẵng (và bằng đường bộ) đến Huế – Savanakhet – Viên chăn.
Kết hợp với năm du lịch Lào (1999-2000) với chương trình hành động quốc gia của Việt Nam cùng xây dựng chương trình sản phẩm quảng bá du lịch chung cho 2 nước.
Cử chuyên gia du lịch sang Lào để giúp bạn đào tạo về nhân lực du lịch.
Kiến nghị sớm nghiên cứu và cho phép nâng cấp Tây Trang thành cửa khẩu quốc tế tại tỉnh Lai Châu với Lào.
Với Campuchia: ngoài tuyến du lịch đường không và đường bộ hiện có cần sớm bàn bạc, phối hợp với nước bạn xây dựng tuyến du lịch phối hợp bằng đường sông và tuyến du lịch liên hoàn 3 nước Đông Dương.
Nguyễn Minh Đức – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999