Tour ngắn ngày

Đối với Cán bộ công nhân viên và học sinh, sinh viên của các đô thị, hai ngày nghỉ cuối tuần là cơ hội để nghỉ ngơi, thư giãn. Nhưng thực tế hiện nay lại hình thành trong họ một câu hỏi: thời gian đó nghỉ đâu, chơi đâu?
Đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí của du khách trong những ngày nghỉ cuối tuần, các công ty du lịch ở Hà Nội đã ra sức hình thành các tour trọn gói theo thời gian 2 ngày 1 đêm, 3 ngày 2 đêm… thực tế, các tour ngắn ngày này đáp ứng thuận tiện cho các công sở, trường học trong những dịp lễ, hội. Tuy nhiên, theo chị Nguyễn Thị Bích Nga, công tác tại phòng thị trường nội địa của công ty du lịch Việt Nam tại Hà Nội thì: “Lượng khách trong thành phố đi du lịch chưa đạt mức khả quan như mong đợi”. Và đây cũng là nhận định chung của hầu hết các công ty du lịch trong thành phố.
Thực tế, những tour trọn gói từ 1 đến 2 ngày thường thu hút khoảng 20 người trở lên và đáp ứng khá đầy đủ những nhu cầu sinh hoạt ăn uống, địa điểm nghỉ ngơi của du khách ngoại trừ du khách ở thành phố. Bởi vì, đa phần khách thành phố có tâm lý thích đi nghỉ ngơi cùng gia đình hay ít nhất một người bạn thân. Họ không thích đi ghép theo đoàn để độc lập hơn, tự lựa chọn điểm giải trí và sử dụng thời gian tùy thích. Chị Lê Phương Tâm ở Hoàng Hoa Thám, Hà Nội nói rằng: “Gia đình mình cách đây hai tuần lại đi nghỉ mát 1 lần, song bọn mình thường đi tự túc, ít khi mình đi theo tour tổ chức. Đơn giản là đi theo tour thường không đặt ý muốn của mình lên hàng đầu mà phải theo tập thể”. Rõ ràng, nếu bạn đi du lịch cùng đoàn có ý nghĩa là bạn sẽ tuân thủ theo những quy định ăn, ngủ của các chương trình đã định. Trường hợp bạn không muốn ngủ chung phòng với ai thì ngoài tiền trả tiền chung. Bên cạnh đó du khách, du khách không có thời gian ngẫu hứng riêng, tất cả đều phải nhất quán khi nào đến và khi nào về. Chị Bạch Kim Liên, thôn Trung, Cầu Giấy còn nói: “Có lần đi thăm Tam Đảo, tôi muốn ghé thăm Thác Bạc lâu hơn thì đã bị giục đi theo đoàn ngay”. Những chuyến đi tập thể thật sự không hấp dẫn nữa. Còn tạo tour riêng cho gia đình mình thì phải chi phí rất cao. Một chuyến đi Hà Nội – Tam Đảo, theo tour trọn gói gồm 4 người/ một gia đình, chi phí hơn 430.000 đồng/ người, trong khi đó với 20 người thì chỉ mất gần 200.000 đồng/ người là do phục vụ khá.
Ngoài ra, hiện nay du khách ở thành phố nhận thấy địa điểm du lịch, cách lập tour ở công ty là như nhau, nhàm chán. Trong khi hầu hết Cán bộ công nhân viên đều thích dành ngày chủ nhật ở nhà để khỏi hấp tấp trước ngày đi làm thì các công ty dịch vụ du lịch lại chú trọng xây dựng những tour sử dụng tối đa cả 2 ngày như: Hà Nội – Tam Đảo, Hà Nội – Hạ Long… Tour 2 ngày đã vậy, tour một ngày cũng mới chỉ là tour du lịch đến các di tích lịch sử, các làng nghề trong thành phố. Thực tế là, theo tour 2 ngày, du khách chưa cảm thấy thỏa mãn được xả hơi, ngắm nhìn cảnh quan và hương vị nơi mình đến thì tour một ngày lại ít điểm đến, sản phẩm đơn điệu, thừa thời gian. Bạn Nguyễn Thị Khánh, sinh viên năm thứ 2, Trường trung học nghiệp vụ du lịch nói rằng: “Bọn mình có lần đi thăm tất cả các điểm di tích của thành phố Hà Nội mà chỉ vèo mấy tiếng đồng hồ là xong. Anh hướng dẫn viên đoàn mình còn nói vui, thừa thời gian chúng ta xuống đâu đó tán gẫu đi”. Theo chị Ngà ở Phan Đình Phùng, Hà Nội thì: “Công việc của chị tương đối bận rộn nên rất thích có một chuyến nghỉ ngơi, vui chơi tại nhưng khu vui chơi ở tại thành phố. Hiện giờ, những khu vui chơi ở Hà Nội chưa thật sự hấp dẫn nên cũng khó liệu cách nghỉ ngơi thế nào”.
Nhìn chung, theo các du khách thì nội dung tour còn nghèo nàn, chưa phục vụ sát với nhu cầu và ước muốn của họ. Để xây dựng được những tour ngắn ngày thật hấp dẫn, mới lạ và giá cả phù hợp với từng đối tượng, các công ty du lịch cũng nên đi vào thực tế và cũng nên tính đến các ý kiến đóng góp của du khách.
An toàn giao thông cho mọi người quy định về người tham gia giao thông.
Người điều khiển xe thô sơ phải thông hiểu những quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị. Cá nhân, tổ chức sử dụng xe thô sơ xe bò, xe trâu, xe ngựa, xe xích lô…kinh doanh vận tải phải có giấy phép hành nghề do cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành Giao thông vận tải đường bộ cấp.
Người điều khiển xe máy có dung tích xi lanh 50 cm3 phải có giấy chứng nhận học tập LLGT do ngành Giao thông vận tải cấp.
Người điều khiển xe máy trên 50 cm3 và các loại xe cơ giới khác phải có bằng lái xe theo quy định hiện hành.
Người dưới 16 tuổi không được điều khiển các loại xe cơ giới.
Nghiêm cấm điều khiển các loại xe trong các trường hợp sau đây:
Do tình trạng sức khỏe không tự chủ điều khiển được tốc độ xe.
Người lái xe đang điều khiển xe trên đường mà trong máu có nồng độ cồn, rượu, bia vượt quá 80mmg/100ml máu hoặc 40mmg/lít khí thở và các chất kích thích khác.
Không có đủ các giấy tờ theo quy định như:
Giấy chứng nhận đăng ký xe.
Giấy phép lái xe nếu điều khiển xe theo quy định phải có giấy phép lái xe.
Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường nếu loại xe yêu cầu phải có.
Trường hợp bị mất hoặc làm hư hỏng giấy phép lái xe mà có đủ chứng cứ bị mất, bị hư hỏng, không bị tước, không bị tạm giữ sẽ được xét cấp lại.
(điều 28, 29, 30 Điều lệ TTAT – GT đường bộ và đô thị, bàn hnàh kèm theo NĐ36/CP của Chính phủ).
Hoàng Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Hoàng đế cuối cùng và những cuộc hôn nhân của mình

Năm 1921, khi Phổ Nghi – vị vua cuối cùng của triều Thanh bước vào tuổi 15 thì 4 vị Thái hậu (2 vợ của vua Đồng Trị, 2 vợ của vua Quang Tự) yêu cầu Phổ Nghi phải tính chuyện gia thất. Đây là vấn đề được cả hoàng cung quan tâm nên các Thái hậu và các hoàng thân đã có nhiều cuộc họp bàn kỹ lưỡng.
Nhưng, giữa các Thái hậu lại không có sự thống nhất trong lựa chọn “cô dâu”. Bà nào cũng muốn Phổ Nghi phải lấy người mà mình tiến cử. Cuối cùng, hoàng gia nhất trí cho Phổ Nghi được “toàn quyền”bằng cách “tuyển” qua các tấm ảnh. Việc đại sự đó sau này được Phổ Nghi nhớ lại trong cuốn hồi ký “Làm Hoàng đế rồi lại làm dân”: Đối với tôi, cô nào cũng như cô nấy. Gương mặt các cô trong ảnh nhỏ quá nên tôi không biết các cô có đẹp không. Tôi chỉ có thể so sánh các kiểu xiêm áo… Tôi lơ đễnh khoanh một vòng vào một bức ảnh đẹp”.
Tiếc thay, người mà Phổ Nghi chọn lại là Ôn Tú, thuộc dòng Mãn Châu. Nàng cũng là nhân vật được Thanh Di Thái hậu tiến cử. Vì thế, Thuận Khang Thái hậu phản ứng kiên quyết. Bà cho rằng, Ôn Tú là con nhà nghèo, lại xấu xí, trong khi Vương Dung (người được bà chọn cho Phổ Nghi) là con gái một gia đình giàu có, xinh xắn, bằng tuổi Phổ Nghi, còn Ôn Tú mới có 12 (kém Hoàng thượng 3 tuổi). Thế là, mặc dù là chuyện đời mình, nhưng để chiều ý Thuận Khang, Phổ Nghi lại khoanh một vòng quanh tấm ảnh Vương Dung. Chẳng ngờ việc làm đó dẫn đến sự tranh cãi kịch liệt của các Thái hậu. Hoàng gia lại chụm đầu bàn bạc, phân tích rồi đưa ra giải pháp nhằm dung hòa sự mâu thuẫn giữa các Thái hậu tối thượng: Ngoài Vương Dung, Phổ Nghi còn phải cưới Ôn Tú làm thiếp!
Nhưng khi đó, hôn lễ chưa tiến hành ngay vì sự bàn luận của các Thái hậu khá gay gắt. Hơn nữa, mẹ đẻ của Phổ Nghi vừa mới mất (bà tự sát do bị Thái hậu Thuận Khang gọi vào cung quở mắng khi Thái hậu bị Phổ Nghi cãi lời). Hai năm sau, đám cưới mới được tổ chức long trọng với những nghi thức truyền thống vô cùng cầu kỳ của Hoàng gia.
Sau hôn lễ, đúng ra theo tục lệ, vua và hoàng hậu sẽ ngủ qua đêm tại phòng hoa chúc tại Khôn Ninh cung. Nhưng sau khi làm lễ uống rượu, ăn bánh hạnh phúc, cô dâu đã sẵn ngồi trên giường. Khẽ cúi đầu chờ đợi thì bất ngờ Hoàng đế Phổ Nghi lại cảm thấy chán cái không khí đại lễ này nên bỏ về hoàng cung. Thế là, sự bất ổn trong tâm thế của vị vua đã khiến cho cả Hoàng hậu Vương Dung lẫn thứ phi Ôn Tú cùng bơ vơ một mình trong đêm tân hôn.
Năm 1931, khi triều đình Mãn Thanh đang lưu vong ở Thiên Tân – thành phố phía bắc Trung Quốc, thì Ôn Tú đột nhiên xin ly dị. Nguyên do, một phần vì Phổ Nghi mà sau này ông đã thú nhận: “Tôi không biết tình yêu là gì và trong hôn nhân, vợ chồng bình đẳng ở chỗ nào. Đối với tôi, vợ và hầu thiếp đều là nô lệ và công cụ của vua mà thôi”.
Ôn Tú không bao giờ nhận được sự quan tâm như đối với người vợ thực thụ từ Phổ Nghi. Đã thế, nàng lại bị Hoàng hậu Vương Dung chèn ép mọi bề khiến nàng hiểu rằng, chỉ có rời bỏ hoàng cung, nàng mới được yên ổn. (Sau này, Ôn Tú trở thành giáo viên tiểu học và không lấy chồng nữa. Năm 1950, nàng qua đời).
Sau khi Vương Dung đuổi Ôn Tú đi, Phổ Nghi càng hờ hững với Hoàng hậu. Vì thế, Vương Dung đã yêu Lý Thiên Vũ – tài xế của Phổ Nghi ở Mãn Châu và có 1 đứa con nhưng bị người Nhật giết ngay sau khi sinh. Chán ngán cuộc sống lưu vong cùng với sự xa lánh của Phổ Nghi, Vương Dung đã chọn thuốc phiện làm bạn. Vì thế, sức khỏe của Hoàng hậu ngày càng suy giảm rồi bà qua đời năm 1946.
Như để trừng phạt Vương Dung vì đã đuổi Ôn Tú, năm 1937, Phổ Nghi đã cưới một cô học trò 16 tuổi làm hầu thiếp thứ 2. Đó là Ngọc Tuế. Nàng thông minh, đọc nhiều sách và có vẻ tâm đầu ý hợp với Phổ Nghi. Năm 1942, Ngọc Tuế chết một cách bí ẩn. (Về sau, tại tòa án tội phạm chiến tranh châu Á ở Tokyo, Phổ Nghi đã buộc tội người Nhật gây ra cái chết oan uổng cho nàng).
Ít lâu sau, Phổ Nghi lại cưới Ngọc Cầm khi đó mới 15 tuổi làm thứ phi. Năm 1950, Phổ Nghi bị chính quyền Trung Quốc bắt giữ thì đến năm 1958, Ngọc Cầm đã đòi ly dị Phổ Nghi khi ông đang trong tù. Điều này khiến vị hoàng đế cảm thấy bị xúc phạm dù chính ông đã bỏ rơi bà ở Talizou năm 1945. Vì thế, Phổ Nghi đã từ chối không gặp bà khi ông được di chuyển nơi giam giữ đến Trương Trung – địa phương bà đang làm việc.
Rời khỏi trại cải tạo sau hơn 10 năm bị bắt giữ, vị hoàng đế cuối cùng triều Thanh đã được Hội đồng tư vấn chính trị nhân dân Trung Quốc và Ủy ban Mặt trận Thống nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức cho đám cưới với cô Lý Tú Hưởng – một điều dưỡng viên ở Hàng Châu vào 1/5/1962.
Ngô Thanh Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(181)2001

Phát triển du lịch thật sự

Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trả lời phỏng vấn báo du lịch: Chúng ta cần phải phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Phóng viên: Thưa tổng Bí thư, trong dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 của Ban chấp hành Trung ương xây dựng để trình Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng có nhấn mạnh cần phải phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Xin tổng bí thư nói với độc giả rõ hơn về vấn đề này?
Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng. Những năm gần đây Đảng và Nhà Nước đã có nhiều chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy du lịch phát triển. Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII đã ra Chỉ thị 46 – CT/ TW (ngày 14/ 10/ 1994) về “Lãnh đạo đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới”. Gần đây, ngày 11/ 11/1998 Bộ Chính trị ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã thảo luận và nhất trí với kết luận một số định hướng lớn phát triển du lịch trong tình hình mới. Thực hiện các chủ trương trên Nhà nước đã ban hành pháp lệnh Du lịch, thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch, xây dựng nhiều kế hoạch hành động thiết thực. Nhờ vậy trong những năm qua, ngành Du lịch Việt Nam đã có bước phát triển nhanh chóng, góp phần tích cực vào quá trình đổi mới kinh tế.
Mục tiêu lớn nhất về chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước ta trong 10 năm đầu của thế kỷ XXI là đẩy mnahj công nghiệp hóa, hiện đại hóa, theo quy định theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng về mọi mặt để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để thực hiện thành công chiến lược này, ngành Du lịch với một số ngành dịch vụ có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc thúc đẩy tăng cường tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.
Vì thế, chúng ta cần phải phát triển Du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Phóng viên: Để ngành du lịch xứng đáng với vị trí mới này, xin Tổng Bí thư cho biết ngành Du lịch cần phải làm gì?
Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: Trước hết, cần giữ mức tăng trưởng tổng doanh thu của ngành trong giai đoạn này từ 9 – 10%/ năm thông qua nâng cao chất lượng và hiệu quả du lịch trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử. Cần liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động du lịch nhằm tạo động lực tổng hợp thúc đẩy du lịch phát triển. Phát triển và đa dạng hóa các loại hình và các điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Chúng ta cần xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, đẩy mạnh hợp tác liên kết với các nước trong hoạt động du lịch.
Phóng viên: Xin cảm ơn Tổng Bí thư.
Du lịch
Tích cực tham gia các hội chợ và các sự kiện du lịch quốc tế. Tổ chức phát động thị trường du lịch ở các thị trường mới và giàu tiềm năng. Tăng cường mối quan hệ giữa lữ hành và khách sạn… Các trung tâm lữ hành sẽ ưu tiên đưa khách đến các khách sạn có chất lượng phục vụ tốt, giá cả phải chăng. Các khách sạn cần nâng cấp, nâng cao chất lượng phục vụ, hiệu quả quản lý để có sản phẩm du lịch chất lượng cao. Các hoạt động lữ hành phải gắn với các loại hình vận tải chuyển khách; đường không, đường sắt, đường thủy và các khu vui chơi giải trí, tạo thành hệ thống sản phẩm du lịch chất lượng cao, hấp dẫn.
Coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lữ hành\, đội ngũ hướng dẫn viên để đảm bảo chất lượng phục vụ khách du lịch các chương trình du lịch. Cải tiến các thủ tục ra vào của khách hơn nữa, tạo thuận lợi cho khách, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động lữ hành.
Tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và các nước. Tiến hành nối mạng Internet, nâng cao chất lượng quản lý, phục vụ khách.
Ngăn chặn hiện tượng lợi dụng danh nghĩa chỉ làm visa cho người nước ngoài núp bóng, làm điều phối viên và các hoạt động không lành mạnh khác…
Hoạt động kinh doanh lữ hành sẽ có bước phát triển mới, góp phần cùng toàn ngành phấn đấu năm 2001 đạt mục tiêu đón 2,2 triệu lượt khách quốc tế, để Ngành du lịch xứng đáng là ngành kinh tế tổng hợp, kinh tế mũi nhọn của đất nước, để trong vòng vài năm tới du lịch Việt Nam tiến kịp các nước tiên tiến về du lịch trong khu vực, để Việt Nam là Điểm đến của thiên niên kỷ mới.
Du lịch trên kênh đào Erie
Vào đầu thế kỷ 19, kênh đào là một trong những phương tiện giao thông quan trọng của hành khách lẫn hàng hóa và cũng tạo cho du lịch đường thủy phát triển.
Kênh đào Erie là kênh đào nổi tiếng nhất nước Mỹ, được khởi công vào năm 1817. Sau 8 năm lao động vất vả của hàng trăm công nhân, kênh được hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 1825. Kênh Erie chạy suốt từ sông Hudson ở Albany (New York) đến hồ Erie ở Buffalo dài 363 dặm (khoảng 584 km).
Đi du lịch bằng thuyền trên kênh Erie rất thú vị nhưng cũng có những bất tiệ, đó là phần lớn các cầu trên kênh đào đều thấp, do đó khi đi qua các cầu trên kênh đào hành khách phải nằm bẹp xuống hoặc chịu nguy cơ bị quét khỏi tàu. Mặc dù có những bất tiện trên, nhưng kênh đào Erie hàng năm vẫn thu hút được nhiều khách du lịch đến tham quan.
Hoàng Long – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Châu Khê cần một hướng đi bền vững

Ngôi làng cổ Châu Khê thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bắc Giang , Hải Dương nằm dọc tả ngạn sông Cửu An đã gần một ngàn năm. Châu Khê ngày nay đang giữ cho mình một hình ảnh một ngôi làng cổ Bắc Bộ yên bình với những nếp nhà ngói xinh xắn ẩn mình trong vườn cây xanh mướt. Trong khung cảnh làng quê trù phú ấy, có một Châu Khê nổi tiếng với nghề kim hoàn đang cần có hướng phát triển bền vững.
Châu Khê bước vào nghề vàng bạc năm 1461, khi vua Lê Thánh Tông giao cho Thượng thư bộ lại Lưu Xuân Tín là người làng Châu Khê giữ trọng trách đúc bạn nén làm tiền tệ cho kinh thành Thăng Long. Trải qua bao năm biến động thăng trầm, làng kim hoàn Châu Khê đã quay về nghề cổ truyền khi đất nước thực hiện chính sách mở cửa. Những tinh hoa của nghề chế tác vàng bạc một lần nữa được nâng niu bởi những đôi bàn tay khéo léo, kiên trì, cần mẫn của người thợ làng Châu. Ngày nay, đời sống xã hội nhìn chung đang được nâng cao nên tay nghề vàng bạc Châu Khê có cơ hội phát triển. Những hộ gia đình có tay nghề cao, tìm được nhiều nguồn tiêu thụ sản phẩm sẽ có thu nhập trung bình khoảng 1,5 triệu đồng/tháng và cuộc sống khá ổn định.
Tuy cuộc sống nhân dân ở đây hiện tại tương đối khá giả nhưng làng nghề kim hoàn Châu Khê đang một định hướng phát triển lâu dài. Hiện tại, người dân nơi đây chưa bằng lòng với mức thu nhập nhờ nghề kim hoàn. Do đó, nhiều hộ gia đình khi tích lũy đủ vốn thường vươn ra các thành phố thị xã… mở tiệm vàng, vừa sản xuất vừa kinh doanh với thu nhập khoảng 60 – 60 triệu đồng mỗi năm. Đồng thời, không ít thợ kim hoàn của làng ra Hà Nội làm thuê ở các tiệm vàng để có thu nhập cao hơn. Những hộ ở lại làng chủ yếu gia công chế tác rất thấp. ông Lê Văn Vui, một thợ thủ công ở làng cho biết: “Tiền công chế tác giờ đây ngày càng thấp thì số lượng thợ đông. Trước kia, tiền cồn đánh một sợi dây chuyền bạc là 5.000 đồng, nay giảm xuống còn 2.000 đồng. hiện tại ở làng ít chế tác vàng vì tiền vốn lớn và khi đem ra buôn bán dễ mất mát”. Như vậy, Châu Khê muốn phát triển bền vững thì phải giải quyết không ít khó khăn mà trước mắt là tìm nguồn vốn, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm để khuyến khích thợ thủ công gắn bó với làng nghề. Ông Phạm Minh Tiến, chủ nhiệm dự án “Phát triển mỹ nghệ kim hoàn Thúc Kháng” cho biết: “Chúng tôi đang đề nghị UBND tỉnh xem xét chuyển dịch khoảng 6.000 – 10.000 m2 đất nông nghiệp để xây dựng phố làng ở ngách làng cổ. Khi đó, phố làng nghề Châu Khê sẽ đá ứng được mọi nhu cầu mỹ nghệ kim hoàn của khách hàng, giúp thợ thủ công yên tâm sản xuất ngay tại làng nghề, nâng cao thu nhập của thợ và đem lại nguồn thu nhập cho địa phương”.
Những cố gắng của nhân dân làng nghề Châu Khê trong việc phát triển ngành nghề truyền thống có rất nhiều ý nghĩa, không chỉ dừng lại ở việc sản xuất ra bao nhiêu sản phẩm, bao nhiêu tiền mã đã giải quyết nhiều vấn đề xã hội như việc làm, chuyển dịch cơ cấu nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời tạo ra tour du lịch giới tinh hoa văn hóa làng nghề Việt Nam nói chung và làng nghề Châu Khê nói riêng. Tại Hội nghị Phát triển ngành nghề nông thôn ác tỉnh phía Bắc tổ chức tại Hà Nội vừa qua, Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn đã đưa ra 10 vấn đề đòi hỏi các ngành liên quan đến phát triển ngành nghề nông thôn cùng phối hợp thực hiện cho tốt. Theo đó, làng nghề Châu Khê cần được quan tâm của sở Thương mại – Du lịch và Sở Văn hóa Thông tin Hải Dương để tháo gỡ những vấn đề: tín dụng, quy hoạch đất cho phố làng nghề, thông tin để tiếp cận với thị trường trong và ngoài nước, đưa công nghệ mới vào các làng nghề thủ công, góp phần cải tạo, bảo vệ môi trường cho làng nghề. Nếu sớm được đầu tư phát triển, làng nghề Châu Khê sẽ có những bước tiến vững chắc và chắc chắn trở thành một sản phẩm du lịch mới của ngành du lịch.
An Giang: Tổ chức chương trình tham gia tour Núi Cấm.
Khu du lịch Lâm Viên Núi Cấm An Giang tổ chức chương trình tham gia tour Núi Cấm với tour 1 ngày và tour 2 ngày 1 đêm. Theo đó, ở tour một ngày du khách sẽ được leo núi và tham quan các điểm Vồ Thiên Tuế, suối Thanh Long, Giếng Nước, thao trường vua Gia Long, đền thờ Võ Đế, Vồ Đầu, Vồ Ông Bướm, Vồ Trăm Họ, Điện 13 tầng, Hang Ông Thẻ, Bát Tiên, chùa Vạn Linh, điện Huỳnh Long. Ở tour 2 ngày 1 đêm có thêm tuyến điểm Điện Bồ Hong, Điện Tam Thanh, Điện Râu Tần. Chương trình tham quan tour Núi Cấm trọn gói hoặc từng phần theo yêu cầu của du khách, có hướng dẫn viên và các dịch vụ khác: Cắm trại dã ngoại về đêm, đặt phòng, các món ăn đặc sản vùng Bảy Núi. Theo Ban Giám đốc khu du lịch Lâm Viên Núi Cấm thì vào mùa cao điểm năm nay, các khách sạn, nhà nghỉ vẫn giữ mức giá như ngày thường.
Quảng bá du lịch nước ngoài gặ nhiều trở ngại.
Hiện nay để khách nước ngoài vào viết bài, chụp ảnh, làm thêm quảng bá cho du lịch Việt Nam còn rườm rà, chi phí tốn kém. Đồng thời, nhiều địa phương thu phí quay phim, chụp ảnh tại điểm du lịch rất cao khiến khách bị ức chế, các ấn tượng tốt về chuyến đi.
Quỳnh Hoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Cần có cơ chế để du lịch cùng bảo tồn di tích

“Văn hóa là nguyên nhân nội sinh của Du lịch”. Hà Nội là địa phương điển hình của cả nước về sự phong phú tiềm năng Du lịch dựa trên những giá trị Văn hóa. Vậy sự phối hợp giữa hai ngành Du lịch và Văn hóa ra sao và làm thế nào tăng cường mối quan hệ đó vì sự phát triển của hai phía. Ông Nguyễn Viết Chức – Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin Hà Nội cho biết:
Hai ngành Văn hóa, Du lịch của Hà Nội có sự phối hợp rất chặt chẽ, biện chứng. Dự kiến vào tháng 10 tới, hai ngành tổ chức một liên hoan du lịch tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Chúng tôi sẵn sàng dành địa chỉ Văn hóa quý giá nhất thành phố phục vụ Du lịch, cho dù nếu có sơ suất, Văn hóa sẽ phải chịu trách nhiệm. Bởi vì chúng tôi nhận thức rằng, hai ngành phối hợp chặt chẽ với nhau sẽ giảm thiểu tối đa vấn đề Du lịch ảnh hưởng không tốt đến giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Quan trọng hơn, Du lịch phát triển sẽ đóng góp khá lớn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả thành phố…
Nghĩa là ở ngành Văn hóa Hà Nội không tồn tại quan niệm “Văn hóa còng lưng làm để Du lịch thu lợi nhuận”?
Rất đúng. Không nên hiểu cục bộ phiến diện là ai thu lợi. Ai thu được cũng làm cho dân giàu nước mạnh cả.
Theo ông, cần phải làm gì để mối quan hệ giữa Văn hóa – Du lịch chặt chẽ hơn?
Hiện nay một mình Văn hóa không thể trùng tu, tôn tạo xuể hàng ngàn di tích lịch sử trên địa bàn Hà Nội. Chúng tôi không ôm khư khư trách nhiệm này để giành các dự án nhằm kiếm chút lợi lộc mà sẵn sàng chia sẻ với bất cứ ngành nào và tôi thấy Du lịch là hợp lý nhất. Vậy phải có cơ chế, chính sách trích một phần doanh thu mà ngành Du lịch nộp ngân sách nhà nước phục vụ công tác bảo tồn di tích. Đương nhiên chúng tôi vẫn phải tổ chức chặt chẽ về quản lý nhà nước để tránh sai sót. Như vậy Văn hóa và Du lịch mới thực sự cùng phát triển được, Thực tế cho thấy hai ngành Văn hóa và Du lịch Hà Nội đã bàn bạc cùng tôn tạo một số di tích lịch sử, còn khó vì vướng về nhận thức của một số bên khác. Tổng cục Du lịch cũng cần bàn bạc với Bộ Văn hóa – Thông tin ban hành văn bản liên tịch chỉ đạo việc phối hợp giữa Văn hóa – Du lịch ở cấp địa phương.
Xin cảm ơn ông.
Bốn dự án du lịch mới của hà nội
Sở Du lịch Hà Nội vửa quyết định giao nhiệm vụ chủ đầu tư bốn dự án: Tuyến du lịch sông Hồng cho Công ty Du lịch Hà Nội, khu nghỉ cuối tuần đường cao tốc Hà Nội – Hòa Lạc cho Công ty Du lịch và Thương mại Hà Nội, khu vui chơi giải trí Sóc Sơn cho Công Ty Du lịch Dịch vụ Hà Nội, khu vui chơi giải trí Đông Anh cho Công ty Du lịch Thương mại Cổ Loa.
Bốn doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện các bước lập dự án đầu tư theo đúng quy định về quản lý đầu tư, xây dựng, quy hoạch, huy động và sử dụng vốn. Đây là những dự án quan trọng góp phần đổi mới, phát triển du lịch Thủ đô cũng như nâng cao điều kiện sống cho người dân khu vực Hà Nội và các vùng phụ cận. Những dự án trên nằm trong chương trình phát triển Du lịch Thủ đô từ nay đến năm 2010 và những năm sau.
Do cơ sở vật chất như sân bãi: trang thiết bị dụng cụ để luyện tập, thi đấu… đã được các địa phương đầu tư đáng kể, nhất là cho các môn thế mạnh của mình nên các giải thi đấu trong nước sẽ không còn tập trung vào các trung tâm, thành phố lớn như trước. Các địa phương đủ điều kiện đều mong muốn và sẵn sàng đăng cai giải toàn quốc, nhằm khẳng định phong trào của địa phương và nâng cao thành tích trước các đối thủ trên toàn quốc.
Trịnh Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Hàng lưu niệm cần có chiến lược

Mua quà lưu niệm để làm kỷ vật cho một chuyến đi, ở một di tích, danh thắng v.v… là một trong những nhu cầu của người đi du lịch. Nắm bắt được tâm lý của khách, tại hầu hết một số điểm trên thế giới, người ta có hẳn chiếc lược sản xuất hàng lưu niệm, để thỏa mãn nhu cầu khách tham quan, đồng thời tạo được nguồn thu đáng kể. Nhưng hàng lưu niệm ở các điểm du lịch của Việt Nam thì sao?
Hiện nay, thì trường hàng lưu niệm cho du khách cũng được mở rộng và cải tiến một bước. Nhiều điểm du lịch đã có các sản phẩm đặc trưng, tạo được dấu ấn đệp trong lòng du khách.Sapa có các mặt hàng ví, áo ghi lê… làm bằng thổ cẩm với hoa văn tuyệt đẹp làm mơ hoặc lòng người. Quốc Tự Giám Hà Nội có những chùa rùa đá cõng trên lưng tấm bia đặc trưng riêng của nơi đây. Đến Lăng Bác, là những chiếc nhà sàn xinh xắn, gợi cho ta thấy đâu đây trong căn nhà đơn sơ, Hồ Chủ Tịch đang ngồi làm việc. Về xứ Huế mộng mơ, nhìn chiếc nón bài thơ đã thấy phản phất hồn dân Việt, làm xao xuyến hồn lữ khách. Thánh địa Mỹ Sơn có hình vũ nữ Chăm với điệu múa Apsara, mô hình tháp chăm bằng gạch nung xinh xắn như muốn gửi đến du khách lời sâu lắng qua từng nét chạm. Về phố cổ Hội An, chiếc đèn long muôn sắc cùng những con tò he bằng đất nung mang đậm nét văn hóa dân gian. Đà Lạt có bán những bức tranh thủy mạc được vẽ trên lụa để khi trở về du khách vẫn thấy xứ sở thơ mộng, trữ tình còn ở bên mình. Nhiều điểm du lịch ở Tây Nguyên, mô hình nhà rông, đàn T’ rưng là các sản phẩm mang đậm nét văn hóa của vùng cao nguyên lộng gió, được du khách đặc biệt mến mộ.
Theo nhận xét của nhiều du khách, đặc biệt là khách ngoại quốc thì, hàng lưu niệm của ta rẻ: đàn T’rưng nhỏ 40.000 – 50.000 đồng, nhà sàn từ 15.000 – 60.000 đồng, những chiếc giỏ bằng mây tre, có họa tiết đẹp chỉ từ 10 – 20.000 đồng. Những sản phẩm cần đến bàn tay khéo léo, kỳ công của các nghệ nhân giá vài trăm đến vài triệu đồng… Mặc dù vậy nhưng họ vẫn cho rằng, hàng lưu niệm ở ta chưa phong phú về kiểu dáng, mẫu mã cũng như chuẩn loại. Ông Vũ Vĩnh Phú – Phó giám đốc Sở thương mại Hà Nội, Ủy viên Ban chỉ đạo phát triển du lịch TP. Hà Nội nhận định: “Hà Nội là địa bàn thu hút được đông đảo khách trong nước và quốc tế. Nhưng hàng lưu niệm còn đơn điệu, thiếu bản sắc nên chưa tạo được ấn tượng với khách du lịch”. Ông Pichai Rakatasinha – Giám đốc Phân ban du lịch, Trung tâm ASEAN nhận xét: “Sản phẩm hàng lưu niệm của Việt Nam chưa có sự đồng bộ về số lượng và chất lượng. Cũng như chưa thể hiện được tính độc đáo, nét đặc trưng của mỗi vùng du lịch…”
Thực tế, những địa phương tạo được hàng lưu niệm có tính đặc trưng như Hội An, Huế, Sapa… còn quá ít. Du khách động Phong Nha Quảng Bình có thể tìm được gì ngoài vài chiếc áo phông, mũ in chữ Phong Nha mà sản phẩm này ở nhiều nơi khác cũng có, chỉ khác chăng là chữ in trên sản phẩm mà thôi. Như thế làm sao tạo được ấn tượng? Hà Tây – địa danh có nhiều điểm du lịch hấp dẫn, nhưng đến đây bạn sẽ tìm được gì? Chùa Hương – nơi “Nam thiên hạ đệ nhất động” mà dấu ấn chỉ là nhẫn mạ, chuỗi tràng hạt hay mấy chiếc khánh đồng hoặc nhựa! Hay cụm Sơn Tây – Ba Vì, ta tìm gì độc đáo? Trong khi đây là nhiều làng nghề độc đáo truyền thống nổi tiếng: lụa Vạn Phúc, khảm trai, điêu khắc, sơn mài… Sao không tạo nét đẹp riêng bằng chính các sản phẩm của địa phương để giới thiệu ở các điểm du lịch: một người bạn của tôi sau khi đi Phan Rang trở về phàn nàn: “Các điểm du lịch gần như không có cửa hàng bán đồ lưu niệm”. Tại sao vùng đất dân tộc chăm sinh sống. Với nền văn hóa đặc sắc và có nhiều sản phẩm hấp dẫn: gốm, thổ cẩm nổi tiếng từ bao đời, được du khách trong và ngoài nước ưa chuộng. Vậy mà ngành du lịch Ninh Thuận vẫn chưa biến thành sản phẩm du lịch, quả là đáng tiếc! Nhiều nơi khác: Vũng Tàu, Nha Trang, Thanh Hóa… khách mua được gì để gọi là đặc trưng phố biển?
Đâu là nguyên nhân của tình trạng trên? Trước hết, những nghệ nhân có tay nghề tinh xảo và sự sáng tạo độc đáo ở ta chưa có nhiều. Hơn nữa, nhiều làng nghề truyền thống đã bị teo tóp do sản phẩm không phù hợp. Còn lại, phần lớn tồn tại tự phát, không có sự định hướng, đầu tư của Nhà nước. Vì thế người sản xuất không nắm được nhu cầu, tâm lý khách du lịch. Sản phẩm làm ra không có thị trường tiêu thụ. Đến như anh Nguyễn Văn Trung một nghệ nhân của một làng nghề mây tre đan Phú Nghĩa, Chương Mỹ, Hà Tây, người được tặng giải “Bàn tay vàng” của Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam, có nhiều sản phẩm trưng bày tại các bảo tàng trong nước và quốc tế cũng phải than thở: “Tôi làm chủ yếu theo đơn đặt hàng, chứ chưa dám tự sản xuất, vì không nắm bắt được thị trường nên sợ ép giá”.
Vậy làm gì để hàng lưu niệm Việt Nam thực sự khẳng định được vị trí của mình. Phần lớn các nghệ nhân có tên tuổi đều mong muốn được sự ổn định định hướng của Nhà nước để phát triển nghề truyền thống. Hơn nữa, giám đốc của một Công ty Du lịch lớn tại Việt Nam cho biết: Sở dĩ các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia… có nhiều hàng lưu niệm ấn tượng và những đặc trưng là do họ có chiến lược sản xuất. Phải chăng hàng lưu niệm Việt Nam chưa tìm được hướng đi là bởi có một chiến lược phù hợp tình hình hàng lưu niệm góp phần tạo sự phong phú cho sản phẩm du lịch, là cầu nối cho các điểm trong nước và các nước với nhau. Du lịch Việt Nam được bạn bè quốc tế biết đến không chỉ bằng phương pháp tuyên truyền quảng bá, mà còn bằng hình thức thông qua hàng lưu niệm. Từ Việt Nam trở về, họ giới thiệu đất nước chúng ta bằng những kỷ vật cụ thể. Như vậy, tác dụng chẳng thiết thực hơn hay sao!
Bích Loan – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 221 (186) 2001

Phát triển du lịch tại Quê Lâm, Trung Quốc

Phát triển du lịch tại Quê Lâm, Trung Quốc, Quế Lâm, một trong những điểm du lịch đầu tiên ở Trung Quốc đã đón được khoảng 1 triệu lượt tới tham quan vào năm 2000, tăng 40 % so với năm 1999. Tổng thu nhập từ du lịch của thành phố cả khách quốc tế và nội địa là 0,4 tỷ USD.
Giám đốc cơ quan du lịch thành phố, ông Zhong Xinmin cho biết sở dĩ du lịch Quế Lâm đạt kết quả trên là do trong nhiều năm việc cải tạo xây dựng được tiến hành trên quy mô rộng lớn và vấn đề môi trường ở đây được bảo vệ rất chặt chẽ. Đó cũng là kết quả của những cải tạo trong cách quản lý các hoạt động du lịch và các tour trọn gói.
Quế Lâm được thế giới biết đến là nơi có những phong cảnh trữ tình và sông Li Giang đẹp như tranh vẽ. Từ năm 1999 thành phố đã tập trung cải tạo nâng cấp để biến nơi đây thành một thành phố du lịch. Những con đường được mở rộng, những ngôi nhà cũ kỷ được phá dỡ nhường chỗ cho những căn phòng đủ tiện nghi và 24 chiếc cầu được xây dựng lại.
Cùng với những cố gắng về vấn đề môi trường, một số công viên rộng 72,5 héc ta, điểm khởi hành tới ba tuyến hành trình ngắm cảnh thiên nhiên gồm sông Li Giang và núi Vòi Voi đã được lựa chọn làm vị trí đi lại không mất tiền.
Quế Lâm đã được đầu tư 73 triệu USD vào các đề án bảo vệ sông Li Giang bao gồm việc xây đê, đập, nạo vét sông để tàu bè qua lại được và xây dựng các nhà máy xử lý nước cống. Bên cạnh đó hiện nay 4 cái hồ ở tổng thành phố kết nối với sông Li Giang và sông Hoa Đào đã được nạo vét khôi phục có hiệu quả nguồn nước trong vùng. Thành phố cũng tiến hành cải tạo trên một quy mô rộng lớn điều kiện đi lại trên dông và chất lượng nguồn nước.
Những người điều hành tour đã phát triển mạnh các sản phẩm du lịch để tận dụng từ các sự nâng cấp này. Một tour trọn gói đi trên sông bằng tàu thủy vào ban đêm khởi hành tại Yangdi ngược dòng 40 kmm với Yangdi. Ngoài ra còn có ba tour khác cho khách du lịch lựa chọn là tour đi trên sông Li Giang, tour ngắm cảnh trên các hồ ở trong thành phố và tour ba công viên nước Yangsu Sister Liu.
Cơ quan du lịch thành phố Quế Lâm cũng đang lên kế hoạch phát triển tour du lịch trong gói hai ngày tạo điều kiện cho khách du lịch được chime ngưỡng cảnh mặt trời lặn trên sông Li Giang.
Nhằm tổ chức hợp lý hóa cho có hiệu quả hơn việc quản lý các hoạt động du lịch, thành phố Quế Lâm đã thành lập hai trung tâm, một nơi bán vé, giải quyết gấp các vấn đề liên quan đến tàu bè và các thủ tục thanh toán, một số giải quyết các vấn đề khác liên quan đến các tour ở sông Li Giang. Sự chuyển biến tích cực này nhằm loại trừ tận gốc trong qua khứ có nhiều bộ phận dính líu đến quản lý tour du lịch, kết quả là du khách phải chịu chi phí cao và hiệu quả công việc lại thấp.
Thành phố cũng đã lắp đặt hệ thống thông tin du lịch nhằm kết nơi tất cả các nơi điều hành trong vùng. Ngoài ra hệ thống còn chỉ dẫn bằng điện tử cho các tour du lịch tại sông Li Giang đã được phát triển thành nhiều loại ngôn ngữ khác nhau.
Từ năm 1850 – 1900 thời đại thép – nhôm – động cơ nổ
Năm 1856 – Bétxơme đã cải tiến cách luyện thép bằng phương pháp thổi không khí vào lò luyện khi quặng đang nóng chảy. Trước năm 1856 giá thép trên thị trường rất đắt và người sản xuất thép chỉ sản xuất với một số lượng ít vì sợ không bán được.
Nhờ có Bétxơme mã vào nửa cuối thế kỷ 19, thép được sản xuất đại trà, giá thành rẻ. Thép được sử dụng rộng rãi vào việc xây cầu, làm nhà, làm đường ray xe lửa…
Năm 1890 – Khánh thành chiếc cầu thép lớn đầu tiên trên thế giới. Cầu xây dựng mất 50 nghìn tấn thép tại xứ Êcốtxơ. Sau đó, nhờ có những dây cáp bằng thép, tại nước Anh và các nước khác ở châu u đã xây dựng nhiều cầu treo qua sông.
Năm 1890 – Nhờ có các dầm bằng thép, người ta đã xây được nhiều nhà chọc trời ở các nước phát triển.
Năm 1886 – Trước năm 1886, kim loại nhôm thuộc loại quý hiếm và đắt không kém bạc ngày nay. Thời đó các đồ dùng bằng nhôm: bát dĩa, lọ hoa, chậu rửa, cốc, thìa… thuộc loại hàng và chỉ thấy ở các cung điện vua, chúa hoặc ở các nhà giầu. Vua Napôleôn III rất ưa chuộng các đồ gia dụng bằng nhôm. Vào giữa thế kỷ 19, cách nay 150 năm, một fun nhôm (bằng 453,6 gam) được bán với giá 40 đồng tiền rúp bằng vàng ở Mátxcơva.
Từ năm 1886, công nghiệp luyện nhôm bằng phương pháp điện phân đã làm cho giá thành nhôm hạ đi nhiều lần, khiến kim loại nhôm trở nên thông dụng trong dân gian.
Ở Việt Nam, quặng nhôm có ở nhiều nơi, song nhiều nhất thấy ở Tây Nguyên, ước tính tới 1,2 tỷ tấn. Nếu tính cả loại quặng nhôm lẫn latêrít sắt thì trữ lượng khoảng 6 tỷ tấn.
Công nghiệp luyện kim bằng phương pháp điện phân tốn kém một năng lượng điện rất lớn. Nay mai khi ta xây dựng thêm được nhiều nhà máy thủy điện thì chắc chắn công nghiệp luyện nhôm sẽ phát triển mạnh ở nước ta.
Năm 1860 – Lơnoa phát minh ra động cơ đốt trong. Loại động cơ này có nhiều ưu điểm so với động cơ hơi nước vì không cần phải có nồi xúp-de, không cần phải đốt lò liên tục và tránh được hiện tượng nổ nồi xúp-de rất nguy hiểm.
Năm 1876 – Nicôlai Ốtô chế tạo ra động cơ nổ 4 chu kỳ chạy bằng ét-xăng. Từ loại động cơ này, các nhà khoa học nghĩ ra việc chế tạo ô tô và máy bay.
Năm 1892 – Ruđôn Điezen chế tạo ra động cơ mà ngày nay vẫn mang tên ông. Động cơ dùng nhiên liệu điêzen và có tên gọi là động cơ điêzen.
Hải Yến – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Thiên niên kỷ mới

Du lịch Việt Nam bước vào thiên niên kỷ mới, chương trình hành động quốc gia về Du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000 đã đạt được những kết quả quan trọng: tạo bước chuyển biến và nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp và toàn bộ xã hội về vị trí, vai trò và hiệu quả nhiều mặt của du lịch đã thu hút được sự chú ý của toàn xã hội. Hình ảnh Việt Nam nói chung và du lịch Việt Nam nói riêng được nâng cao trên trường quốc tế, tạo thế và lực cho cho du lịch Việt Nam bước vào đầu thế kỷ 21, đưa Việt Nam trở thành điểm du lịch hấp dẫn của khu vực và thế giới.
Bên cạnh những kết quả khả quan đã đạt được, ngành Du lịch đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn: So với các nước trong khu vực, Du lịch Việt Nam còn đang ở vị trí khiêm tốn, con số trên 2 triệu du khách quốc tế đến Việt Nam năm 2000 mới chỉ đưa nước ta xấp xỉ bằng Philippines và bằng 1/4 của Thái Lan hoặc Singapore về lượng khách quốc tế. Nhìn chung, chất lượng sản phẩm du lịch của nước ta chưa có, loại hình sản phẩm du lịch chưa phong phú, độc đáo. Việc nghiên cứu thị trường, đẩy mạnh xúc tiến du lịch còn nhiều hạn chế, đầu tư ngân sách nhà nước cho phát triển du lịch còn hạn hẹp.
Du lịch được đánh giá là một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, có khả năng phát triển nhanh, có thể sớm rút ngắn được khoảng cách so với các nước trong khu vực, đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Trong Dự thảo Báo cáo Chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010 trình Đại hội Ĩ của Đảng đã xác định Du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, cần được phát triển mạnh với quy mô tốc độ và hiệu quả lớn hơn. Sắp tới nếu được tập trung đầu tư tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực đồng thời kịp thời tháo gỡ những vướng mắc khó khăn , trở ngại về cơ sở chính sách thì chắc chắn ngành du lịch sẽ có bước phát triển cao hơn, đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp Đổi mới của đất nước. Trước mắt, với mục tiêu phấn đấu đón 3,5 triệu – 4,0 triệu khách quốc tế vào năm 2005; 7 – 8 triệu khách quốc tế vào năm 2010, thì riêng ngành du lịch sẽ đem lại nguồn thu khoảng 2,5 – 3 tỷ USD vào năm 2010.
Như vậy, cần thiết và có thể đưa ngành du lịch nước ta tiến nhanh, sớm đuổi kịp các nước có nền du lịch phát triển tiên tiến trong khu vực, thực hiện nhiệm vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra: “ Đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch thương mại – dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực”. Đây là mục tiêu mà toàn ngành du lịch đang quyết tâm phấn đấu thực hiện trong những năm đầu của thể kỷ mới, thiên niên kỷ mới.
Sau chuyến đi Tây
Tác phẩm nổi tiếng ra đời sau chuyến đi Tây… Phạm Phú Thứ sinh năm 1821 nhưng không phải tuổi Tân Tỵ, vì tính theo âm lịch thì đó là ngày 26 tháng Chạp năm Canh Thìn, nghĩa là sau một tuần mới đến mùng Một Tết Tân Tỵ.
Phạm Phú Thứ lúc nhỏ tên là Hào (hào kiệt), đi học lấy tên là Thứ (rộng lượng), khi đỗ đại khoa vua đổi là Thứ (đông đúc), do đó có tên chữ là Giáo Chi (dạy họ( lại lấy danh hiệu là Trúc Đường (nhà tre), biệt hiệu Giá Viên (vườn mía) và hai biệt hiệu khác ít dùng là Thúc Minh (Nhật cái trong sáng), Trúc Ẩn (núp trong tre). Ông thi đỗ tiến sĩ năm 22 tuổi, làm quan tới chức Thượng thư Bộ Hộ, sung Thương chính đại thần.
Giữa năm 1863 ông được cử làm phó sứ, cùng chánh Sứ Phan Thanh Giản và Bồi Sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp và Tây Ban Nha với danh nghĩa ngoại giao kỳ thực là đàm phán đòi 3 tỉnh Nam Kỳ. Chuyến công tác kéo dài tận tháng 3 năm sau (1864) mới quay về nước. Về đến kinh, ông dâng vua bản tây hành nhật ký (nhật ký đi Tây), ghi chép tỉ mỉ những điều mắt thấy tai nghe và cảm nghĩ về nền văn minh cơ khí Phương tây nhằm thuyết phục triều đình mạnh dạn mở cửa thông thương với nước ngoài, đưa đất nước tiến lên cường thịnh. Ngoài ra ông còn dâng vua nhiều tấu mang nội dung cải cách giáo dục kinh tế, quốc phòng, nội chính đối ngoại. Ông còn cho mở một trường học tiếng Pháp ngữ đầu tiên ở nước ta.
Trần Tuyên – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Nỗi khổ của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp

Theo chính sách nam đến tuổi 60, nữ 55 thì đủ tuổi về hưu, áp dụng cho tất cả các cán bộ công chức Nhà nước. Quy định này hợp lý cho hầu hết các ngành nghề. Tuy nhiên, đó lại là bài toán khó đối với các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp trong quá trình trẻ hóa đội ngũ diễn viên.
Với chính sách trên, hầu hết các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp đều gặp khó khăn trong quá trình trẻ hóa đội ngũ diễn viên. Nhất là khi, nhu cầu này đang ngày càng cấp bách. Khi Nhà nước còn chưa có sự chuyển đổi cơ chế, mọi khó khăn chưa nảy sinh. Từ khi các đoàn nghệ thuật phải tự hạch toán kinh phí, tự lo ổn định đời sống cho các diễn viên thì khó khăn đã trở thành thử thách. Bên cạnh đó, thị hiếu của khán giả ngày càng cao, cộng với sự cạnh tranh gay gắt giữa các đoàn nhằm chiếm được cảm tình của đông đảo khán giả, đòi hỏi các đoàn phải bắt kịp với nhu cầu của cuộc sống, đồng thời vẫn giữ được định hướng nghệ thuật của từng đoàn. Vì thế, nhân tố làm nên bước tiến mới là đội ngũ diễn viên và yếu tố diễn viên trẻ đẹp, có tài năng thật sự vô cùng cần thiết. Bởi vì, người diễn viên giống như những cây cầu đưa khán giả đến với nghệ thuật, đến với món ăn tinh thần không thể thiếu. Song, thực tại, đội ngũ diễn viên ở các đoàn như thế nào?
THỰC TRẠNG CHUNG
Trong số hơn 55 thành viên thì chỉ có khoảng 30 thành viên của Đoàn Chèo Hà Nội đi diễn thường xuyên. Người không diễn vẫn hưởng lương theo biên chế. Đó là bất cập lớn. Nguyên nhân là vì độ tuổi 35 trở đi, sức bật diễn xuất của diễn viên giảm sút, không hiệu quả. Đơn thuần, với những nhân vật công chúa, hoàng tử thì tuổi tác đã cản trở, khiến họ không phù hợp để vào vai. Trước đây, một thời nghệ sĩ ưu tú Quốc Chim, Lâm Bằng, Xuân Hanh, Thu Hiền, Lan Anh, Minh Nguyệt đã để lại cho khán giả những ấn tượng sâu sắc trong vai nàng Si-ta, hoàng tử Phơ-Liêm nhưng hiện giờ, họ đều đã ở tuổi ngũ tuần, những vai diễn trẻ không còn tương xứng, cộng với trường độ giọng ca không còn khỏe như trước. Tất nhiên, một vài anh chị vẫn giữ được phong độ nhưng đó là con số hãn hữu. Các vai diễn đào, kép thì không đúng với tài năng của họ. Chính vì vậy, trong những buổi diễn vẫn có người diễn và có người không.
Đoàn dân ca Quan họ có 26 thành viên, đội ngũ trẻ chỉ chiếm 2-3 người. Vào những năm 85, hầu hết những diễn viên tham gia trong các Hội diễn ca múa nhạc toàn quốc, Hội thi các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, Liên hoan kịch hát toàn quốc như Quý Tráng, Hồng Mạnh, Lan Hương, Thúy Cải… đã được nhiều giải cao. Nhưng những năm gần đây nổi bật lên chỉ là một vài diễn viên trẻ như Thúy Hường, Quang Vinh. Với đặc trưng âm điệu vang, rền, nền, nảy, những bài hát dân ca Quan họ đòi hỏi người nghệ sĩ phải có hơi dài và khỏe. Chính vì vậy, diễn viên trẻ thường có điều kiện thành công hơn các lớp người “có tuổi”, dù đó là những người đã từng là tấm gương của họ.
Điều đáng quan tâm nhất của Đoàn là đội ngũ kế cận trong tương lai. Nhưng còn nếu để những anh chị có khả năng biểu diễn thấp nghỉ thì họ vẫn chưa đủ tuổi về hưu. Nếu cho họ tự nguyện xin nghỉ thì rất khó, vì ai cũng sợ mất quyền lợi. Bên cạnh đó, người nghệ sĩ không thể nằm trong tình trạng “vắt chanh bỏ vỏ”. Trong khi đó, số lượng biên chế còn hạn định đòi hỏi diễn viên mới vào thì phải có người ra. Nếu không, nhận các em vào theo hợp đồng để giải quyết khó khăn trước mắt thì Đoàn phải tự bỏ ra kinh phí trong vòng 2-3 năm. Thời gian quá dài, 1 năm khiến cho Đoàn chậm tiến triển, mặt khác khiến các em thấp thỏm chưa yên tâm làm việc, dẫn tới chất lượng biểu diễn không cao.
Các đoàn ca múa nhạc cũng nằm trong tình trạng này. Diễn viên múa đạt trình độ nghệ thuật cao ở độ tuổi 26. Độ tuổi này, người diễn viên có sức dẻo dai nhất, sức khỏe cũng như tuổi trẻ giúp họ thành công nhất. Diễn viên Thu Thảo, 30 tuổi (Đoàn ca múa Hải Quân) đã khẳng định: “Những năm tháng biểu diễn ở mọi miền Tổ quốc, mình nhận thấy tuổi trẻ và sức múa luôn đồng hành, ở tuổi 30 trở đi, sức múa của mình đã xuống…”. Vì thế, nếu Nhà nước vẫn duy trì chính sách chung cho các Đoàn nghệ thuật thì quá trình trẻ hóa rất yếu khó khăn cùng với nhiều bất cập nảy sinh. Các đoàn sẽ giải quyết như thế nào với một loạt người đang nhàn rỗi? Tuy nhiên, ở tuổi 40 chưa đủ để về hưu nhưng ở lại thì hiệu quả diễn của họ không cao. Đồng thời, nghệ thuật sẽ mai một nếu không có những lớp người kế thừa và phát huy. Để giải quyết những bất cập này, đòi hỏi cần phải có chính sách cho phù hợp.
CÓ NÊN CHUNG “KHUÔN”
Quá trình hoạt động của các diễn viên trong những đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp có tính đặc thù, bởi sự đào thải khắt khe. Một diễn viên múa, một ca sĩ… không như một kỹ sư hay một nhà khoa học càng có thâm niên trong nghề càng có khả năng cống hiến sức sáng tạo. Trái lại, các diễn viên, nghệ sĩ biểu diễn thường chỉ thật sự thành công trong thời kỳ son sắt của mình. Nói như vậy, không có nghĩa nghệ thuật chỉ chín mùi khi diễn viên còn trẻ mà nghệ thuật thực sự nở rộ ở thời điểm đó. Trao đổi với ông Trần Đình Luyện, Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Ninh, ông đã nói rất cởi mở: “Các đoàn khó khăn thì Nhà nước cũng có khó khăn. Tuy nhiên, quá trình phân định chính sách về hưu sao cho phù hợp với quá trình hoạt động của các đoàn nghệ thuật nói riêng và lĩnh vực Văn hóa nói chung là thiết thực”. Nhìn chung, để tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn phát triển đồng nghĩa với việc phát huy tốt vai trò xây dựng nền văn hóa nước nhà, thì sự quan tâm cụ thể của Nhà nước đến nhu cầu trẻ hóa, đến những quyền lợi chính đáng của người về hưu là rất quan trọng.
Hoàng Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Phải chăng hài kịch lên ngôi

Trong cuộc sống công nghiệp hối hả chúng ta như bị công việc ngốn hết thời gian nên ít có dịp tìm đến các sàn diễn sân khấu để thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật. Đại bộ phận khán giả bây giờ có nhu cầu được xem những tác phẩm nghệ thuật có dung lượng vừa phải, đan xen trong đó là yếu tố hài để đầu óc để căng thẳng sau những giờ làm việc bận bịu. Bởi vậy, sân khấu Việt nam gần đây thiên dần về xu hướng này. Đôi khi có những vở kịch chính kịch, bi kịch hẳn hoi nhưng người ta vẫn có thể cười, bởi những chi tiết hóm hỉnh được tác giả khéo “cài” vào. Chỉ tính riêng nhà hát Tuổi trẻ, 2 năm 1999 và năm 2000 đã xây dựng 6 chương trình hài(Đời cười, Ngẫm mà cười…). Đạt doanh thu 4 tỷ/ năm (gấp khoảng 5 -6 lần năm trước). Chính điều này khiến nhiều người nghĩ rằng “hài kịch lên ngôi”.
Anh Văn Sử – Trưởng phòng Nghệ thuật, Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa – Thông tin) cho biết: “Nếu cho là là thời gian gần đây, hài kịch lên ngôi là không đúng. Bởi lẽ nhiều vở kịch có chất hài và những tiểu phẩm vui nho nhỏ được các nhà hát, các đoàn nghệ thuật dàn dựng. Thế nhưng đó hoàn toàn không phải là hài kịch…” Qua tìm hiểu tại một số đoàn nghệ thuật, được biết: Đôi khi họ cũng cũng phải “cù cừơi” khan giả, nếu không thì… chẳng có ma nào đến xem. Tỏ quan điểm về vấn đề này, anh Sử cho biết thêm: “Đúng, có một số nhà hát, một số đoàn nghệ thuật cố tình cù cười khán giả nhằm mục đích thương mại, câu khách. Thế nhưng đó chỉ là “giải pháp tình thế của mình”. Một vị lãnh đạo đoàn nghệ thuật nọ bộc bạch: “Trong thời buổi sân khấu vắng khách, một vở kịch nếu được coi là nghệ thuật thì dàn dựng rất tốn kém. Vậy mà không bán được vé thì chỉ có nước… “chết”!. Còn một yếu tố cũng không kém phần quan trọng đó là những vở kịch hoành tráng, đem về vùng sâu, vùng xa không được thân thiện vì vận chuyển sân khấu, phông màn, chiếu sáng… cồng kềnh. Trong khi tiểu phẩm hài xé nhỏ được nhân sự, gọn nhẹ khâu vận chuyển nên có thể “đánh nhanh, rút gọn”.
Quả đúng vậy, đó chỉ nên là “cái tạm thời”, bởi sân khấu muốn tồn tại được không phải dựa vờ những tiểu phẩm vui, những vở kịch ngắn “đầy chất nhộn”, mà phải có những tác phẩm hoành tráng theo đúng nghĩa của nó. Những quan tâm đến nền sân khấu nước nhà chắc hẳn cũng điều nghĩ như vậy. Anh Trương Nhuận – Trưởng phòng biểu diễn, Nhà hát tuổi trẻ cho hay” Mặc dù năm 1999 và năm 2000, đã dàn dựng được nhiều tiểu phẩm vui, dí dỏm, được khán giả thủ đô ưa thích, nhưng sang năm nay, chúng tôi có xu hướng quay về chính kịch”. Giải thích vì sao đang rất ăn khách ở mảng “hài kịch” lại chuyển sang chính kịch, anh cho rằng: “Cái gì ăn mãi cũng chán, nếu diễn mãi mảng hài thì sẽ có nguy cơ… “lệch”. Vả lại, đó chỉ là “chiều” theo thị hiếu khán giả thôi. Tới đây chúng tôi sẽ xây dựng những vở diễn có quy mô hoành tráng.
Vậy là hài kịch mà lâu nay nhiều người vẫn lầm tưởng là đang “lên ngôi” thì thực chất lại là những ngón tiểu xảo của các nhà hát “nhạy bén” với thời “cù” vào nách khán giả, nhằm giúp đơn vị họ tồn tại. Dẫu vậy thì chúng ta cũng hy vọng rằng đó chỉ là phương án tạm thời để giải quyết tình thế trước mắt mà thôi.
Ý nghĩa hình tượng rồng trên kiến trúc đền, chùa lăng tẩm Việt Nam
Trong chuyên mục sổ tay hướng dẫn viên du lịch kỳ này, Báo du lịch xin giới thiệu cùng các bạn đọc ý nghĩa của một trong những con vật thường có trên các công trình kiến trúc đền, chùa, lăng tẩm… Việt Nam. Hình tượng con rồng (Long)
Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lâu đời trong lịch sử. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo của giới nghệ thuật siêu tự nhiên. Cùng với sự phát triển của lịch sử, từ lâu các nước phương đông đã hình thành nên quan niệm phổ biến về con rồng, tổng hợp trong những con vật linh thiêng này là trí tuệ, lý tưởng, nguyện vọng, sức mạnh v.v… Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở các nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội của mỗi nước.
Đối với dân tộc Việt Nam, ngoài nét chung nói trên, rồng còn có ý nghĩa riêng, đó là nó chỉ dân tộc Việt Nam có xuất xứ từ con cháu rồng tiên. Từ câu chuyện huyền thoại Lạc Long Quân những biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh,chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tươi tốt. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, chính vì vậy mà các vua chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy lực triều đình. Thời Lê rồng trở thành bản mệnh của nhà vua. Hình tượng rồng được thêu lên tấm áo vua mặc.
Thời kỳ đất nước bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống v.v…và được cách điệu hóa dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Vào thế kỷ thứ XI, dưới triều Lý, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu được xác lập. Con rồng thật sự của Việt Nam đã được ra đời. Cho đến nay, rồng vẫn được sử dụng trong kiến trúc tôn giáo theo một số nét: Mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trang lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn mỗi người Việt Nam
Minh Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001