Có một Đà Lạt rau – Phần 2

Trong đó, món Chim tần Atisô, của đầu bếp Nguyễn Tị Sâm bậc 1 trên 1 của nhà hàng Dinh II đã đoạt số điểm cao nhất. Cái giá trị của món ăn này, hóa ra không phải ở chỗ chú chim bồ câu ra ràng béo mức mà chính là bắp Atisô, xanh nõn ngập dưới lớp nước hầm ngọt lừ. Bắp Atisô chính là bông hoa và là phần quí nhất của cây dược thảo này, có hình như quả thơm nhỏ lại vừa giống một bông hoa hồng hàm tiếu. Bao nhiêu bổ béo của chú chim bồ câu cùng với các loại gia vị đều ngấm hết vào trong bông hoa này. Khi ăn, thực khách sẽ gỡ dần từng cánh mà thưởng thức các vị ngọt bùi cùng mùi thơm gần giống thuốc bắc của Atisô. Thế nhưng khi tham gia Hội thi “món ăn dân tộc toàn quốc” thì lại là món “Giò heo hầm Atiso” của đầu bếp khách sạn Sofitel Dalat Palace đoạt huy chương Bạc. Và một huy chương bạc nữa cũng thuộc về món mà chỉ có Đà Lạt có được. Tất nhiên, cái chỉ có riêng của Đà Lạt không phảilà giò hảo hạng, chim bồ câu. Tuy nhiên, tôi vẫn mê hơn cái món Râu trộn Đà Lạt trong cách biến chế có vẻ hơi đơn giản với lách, dầu, giấm, thịt bò, cà chua, gia vị. Gía trị của nó chính là những bẹ xà lách Curon trằng nõn, giòn tan, ngọt lịm. Cái thứ xà lách mà chỉ có Đà Lạt trồng được, và mỗi bắp xà lách to chỉ lấy được phần nõn giữa. Các thứ rau mà hầu như mọi du khách đến với Đà Lạt ăn phở đều gọi thêm và chủ quán thường phải xin lỗi. Xà lách Curon cũng như Atisô, cải pố xôi, củ hồi, củ dền… là những thứ rau chỉ trồng được ở điều kiện tự nhiên ở Đà Lạt. Ông Mạnh giám đốc khách sạn Anh Đào cho hay, ở nhà hàng Anh Đào có phục vụ đầy đủ món ăn u, Á nhưng hầu hết thực khách thường gọi các món chế biến từ rau quả Đà Lạt. Vì vậy, nhà hàng này có đến 70% món ăn rau. Đó là súp ray xay, xà lách trộn, Hầm Atisô, Pố xôi sốt dầu heo, thịt bò xào cải bông… Đặc biệt nhà hàng này còn có một món ăn đặc sản chế biến từ rau mà ngay cái tến cũng đã đậm đà chất Đà Lạt như lẩu mắn, lẩu bò, nước dùng được hầm kỹ từ các loại xương bò hoặc heo, thêm thịt bò, tôm, mực, gia vị nhân vật chính của món lẩu này mới chính là rau. Tha hồ rau! Những ngọn lá của thứ cải Pố xôi xanh nõn với các vị bùi như chứa đầy đạm, xà lách xon múp míp, sú lơ giòn và béo, và khoai tây, cà rốt, đậu Hà Lan, nấm mỡ… với món Rau tái này thì thực khách có thể gọi thêm rau thoải mái, đến khi nào say…rau thì thôi. Khách Sài Gòn, miền Tây rất kết món này. Còn món lẩu xay là một hỗn hợp với kiểu ăn của khách vùng châu u. Riêng món chim tần Atiso thì khách người Hoa, Đài Loan, Hồng Kông rất khoái. Mới đây, ngành du lịch Đà Lạt đã thiết kế xong những tuor du lịch vườn (không hiểu sao vẫn chưa thấy chào bán cho du khách?). Sau một ngày du khách được hướng dẫn tham quan các vườn rau (và hoa) ở ngoại ô Đà Lạt, tìm hiểu cách gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch rau, tối về lại được thưởng thức ngay những món rau tươi mới được mang về từ nơi họ mới đến chơi. Chưa hết đâu, trước khi lên xe rời khỏi thành phố rau, trên tay du khách còn có những món rau quả rau sú vơ nia. Cái cảm giác về rau Đà Lạt mới trọn vẹn làm sao!
Minh Tự – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (14(66))1999.

Có một Đà Lạt rau – Phần 1

Một danh mục rau ôn đới từ năm 1898.
Khí trời và rau quả, đó là 2 loại sản phẩm đặc hữu mà đất trời đã ban cho Đà Lạt. Cái thứ không khí trong và lành của miền rừng núi ở trên độ cao 1.500 mét, hít vào cứ thấy ngon trong hai lá phổi, có lẽ cũng không cần nói thêm lời nào nữa. Ở đây tôi muốn nói đến rau một loại cây trồng đã có mặt từ buổi đầu Đà Lạt được chọn làm trạm nghỉ dưỡng, đã mang lại sự thịnh vượng cho 2/3 dân cư Đà Lạt sống bằng nghề trồng trọt suốt những thập kỷ qua và làm nên tên gọi … Đà Lạt thành phố vườn. Năm năm, sau khi nhà thám hiểm A. Yersin thám sát Cao Nguyên Lang Bian, một trạm nông nghiệp đã được thành lập năm 1898 tại Đankia với một danh mục rau ôn đới rất là phong phú đã được trồng khoai tây, bắp cải, cải bóng, xà lách, măng tây, cà rốt, cà chua, cần tây, đậu, hành… Lúc đó là những món rau chỉ dành cho người Pháp. Những năm của thậpkỷ 50 đến 70, rau Đà Lạt được xem là hàng cao cấp nổi tiếng với tên gọi là Lơ – Ghim Đà Lạt. Và cho đến nay, dù nhanh tiếng rau Đà Lạt có phần sa sút, một phần do giá cả thị trường máy lạnh thất thường nhưng bao giờ trong các siêu thị ở Thành phố Hồ Chí Minh rau Đà Lạt cũng được xếp ở vị trí cao cấp. Du khách đến Đà Lạt có thể không hài lòng với các thắng cảnh vẫn như cũ, nhưng bao giờ các món rau Đà Lạt tươi ngon cũng làm họ hài lòng không chê vào đâu được. Buổi sáng điểm tâm với phở và món xà lách Curon trắng nõn giòn ngọt, buổi trưa với Pố xối xào thịt bò, Atiso hầm giò heo và bắp cải muối, buổi chiều thì ớt tay cộng cà chua cộng tây xào thịt bò với rau cần và thêm món rau tái lẩu rau bốc khói. Vậy mà sáng hôm sau ăn phở đã hối hả cho thêm rau, nhanh đi. Vẫn chưa hết, trước khi lên xe ra về còn phải có mấy cây cải bông, vài bắp cải tím, chục ký khoai tây… gọi là quà quí từ Đà Lạt.
Giò hầm Atiso và lẩu hoa anh đào
Cách đây 2 năm, lần đầu tiên du lịch Lâm Đồng tổ chức hội thi món ăn dân tộc với 4 món bắt buộc là gà tạo hình thú, gỏi, nem rán và lẩu. Nhưng cuộc tranh tài thật sự của 79 đầu bếp tuyển chọn từ các nhà hàng, khách sạn Đà Lạt và hầu hết chọn món ăn chế biến từ rau. Trong 6 món ăn món thuộc về rau. Đặc biệt là các món hầm với Asitô, một loại cao cấp, rất quý hiếm tại Đà Lạt và là cây dược liệu giúp an thần, mát gan, lợi thận.
Minh Tự – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (14(66))1999.

Phố núi trên đất Hoa Lư

Hoa Lư có thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, là một làng nghề thêu truyền thống, còn là nơi có khu di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng: đền Thái Vi là ba hang Tam Cốc. Ngày trước trong cơ chế cũ ở đây cuộc sống của người dân cũng nghèo nàn và lam lũ. Đồng ruộng được cấy bằng giống lúa cũ năng suất thấp, lúc thời vụ nông nhàn nam giới vào rừng kiếm củi, còn nữ giới thì làm thêu, nhưng cũng chỉ làm cầm chừng đơn lẻ, vì không có nơi tiêu thụ thường xuyên. Mùa mưa đi lại lầy lội, nước ngập bốn bề.
Từ một chủ trương đúng.
Chuyển sang cơ chế mới, nhất là từ khi tái lập tỉnh Ninh Bình đến nay, tỉnh đã chú trọng coi dịch vụ du lịch là một trong những mũi nhọn của nền kinh tế chủ nhà, đồng thời có chủ trương phát triển các ngành nghề truyền thống thì mọi tiềm năng thế mạnh của mảnh đất con người nơi dây, được khơi dạy và đổi thay từng ngày. Ngành du lịch của tỉnh đã đầu tư vào đây hàng tỷ đồng, để nâng cấp tuyến đường từ quốc lộ 1A, đi Bích Động. Tu sửa lại đường điện, đền Thái Vi và nhiều hạng mục công trình khác để phục vụ khách tới tham quan. Từ đó cuộc sống sinh hoạt ở đây trở nên nhộn nhịp, bởi lượng khách tham quan tới ngày một đông. Vào những mùa trảy hội từ khoảng tháng hai đến tháng tư dương lịch, có ngày hàng trăm xe ô tô xe máy nhộn nhịp ra vào. Cá ngày khác cũng có tới hàng bốn năm chục chiếc với hàng nghìn lượt người qua lại. Các quầy bán dịch vụ lần lượt mọc lên hai bên đường, hàng trăm chiếc thuyền nan bồng bềnh chở khách lướt trên sông nước. Tiền thu nhập qua dịch vụ du lịch, có hộ lên tới hàng chục triệu đồng mỗi năm. Với cơ chế thị trường của thời mở cửa, làng thêu tài hoa nơi đây đã có bao đời nay, giờ càng được phát huy. Với 1400 tay kim cả chính và phụ, mỗi người dân nơi này cho ra đời trên 1 nghìn sản phẩm được đem đi tiêu thụ trên khắp các thị trường trong nước, và cả các nước ngoài như Pháp, Đức, Ý… doanh thu hàng năm ước tính đạt hàng chục tỷ đồng. 272 mẫu ruộng bằng 86% diện tích được cấy bằng các giống lúa mới có năng suất cao từ 2,2 đến 2,3 tạ cho một sào. Với 3 nguồn thu nhập chính là dịch vụ du lịch, ngành nghề làm thêu và sản xuất nông nghiệp, đời sống của người dân đã được nâng lên rõ rệt, nhiều gương điển hình như gia đình anh Dâng, anh Quân, anh Lạng, anh Huyền… là những hộ có thu nhập cao và sản xuất giỏi.
Đô thị hóa từ một miền quê
Cùng với việc nhà nước đầu tư để tiếp tục nâng cấp cơ sở vật chất cho ngành du lịch, là sự tham gia đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi của mọi người dân, đã làm cho mảnh đất nơi này thay da đổi thịt. Du khách tới đây như lọt vào một khu phố nhỏ những ngôi nhà cao tầng xây dựng với nhiều kiểu dáng đẹp được mọc lên, bãi đỗ xe được đổ rộng đến tận bờ sông. Đối diện với ngôi đình làng, là khu nhà làm việc của trung tâm du lịch, được xây dựng ngay cạnh bờ sông. Con đường chính được láng nhựa chạy dài đến tận chùa Bích Động, các đường vào xóm được quy hoạch lại và đổ bằng bê tông, dọc theo bờ sông và hai bên đường là những cột đèn chiếu sáng, dưới sông từng đoàn thuyền xuôi ngược chở khách đi tham quan Tam Cốc… Du lịch đã làm cho văn hóa nơi đây thêm khởi sắc. Bên cạnh cây đa bến nước đình làng, và những tấm hàng thêu truyền thống, mang đậm đà bản sắc dân tộc, việc đi nhẹ nhàng văn minh lịch sự hơn. Có rất nhiều các em thiếu niên đang học tiểu học, trung học cơ sở đã thành thạo tiếng Anh trong giao tiếp, tiện nghi trong gia đình đầy đủ như giường, tủ, xa lông, tivi màu… Nhiều hộ đã mua được xe máy, có hộ mua được cả ô tô. Tối về mọi nhà bừng sáng trong ánh điện, ngoài đường, bãi xe, điện chiếu sáng lung linh in trên mặt nước, du khách tới đây tưởng như đang đứng cạnh bờ hồ hay nơi công viên nào đó của thị thành…Được biết vừa qua ban thường vụ tỉnh ủy Ninh Bình đã có nghị quyết về việc quy hoạch khu du lịch (Tam cốc, Bích Động). Đây là một chủ trương đúng của Đảng và nhà nước như một làn gió mới tạo đà phát triển ở nơi đây. Gọi tên phố núi ở nơi đây có thể khía cạnh nào đó chưa đầy đủ, song với sự quan tâm và đầu tư đúng mức của tỉnh Ninh Bình, cùng với sự lao động đóng góp của người dân thì trong tương lai không xa, nơi đây thật sự là một phố núi nguy nga và tráng lệ.
Thế Phong – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (14(66))1999.

Chuyện tuyệt mật về chuyến du lịch của Dương Quý Phi – Phần 2

Dưới chân vách đá là một con suối lượn quanh co. Những dòng nước nhỏ từ các khe đá trên cao róc rách chảy xuống suối hòa cùng tiếng suối reo khi chảy qua các chỗ khúc khuỷu tạo nên một khúc ca thiên nhiên du dương trầm bổng. Dòng suối chỗ nông chỉ đến đầu gối, chỗ sâu đến vài ba thước. Nước trong vắt, trông rõ cả các hòn cuội trắng dưới đáy. Thật là một cảnh thần tiên!
Người đẹp đi tắm suối.
Có người đã tâu với Dương quý phi về cảnh đẹp núi Quái Nham và kể rằng ai tắm ở suối đó sẽ đẹp như tiên và trường thọ. Quý phi họ Dương thích lắm, tâu ngay với vua xin cho đi ngoạn cảnh tắm suối. Cưng ái phi, vua Huyền Tông đã hạ chỉ cho các quan địa phương trong vòng một tháng phải làm một con đường để vua cùng quý phi lên núi Quái Nham du ngoạn. Quan lại địa phương hết sức lo lắng. Có người hiến kế: kết may làm cầu treo. Chôn hai cây to dưới đất làm trụ rồi treo một đoạn cầu mây vào ngọn cây sau đó kết tiếp từng đoạn, từng đoạn cầu mây đi lên cho tới cửa hàng. Lại đắp một con đường dốc thoai thoải đi lên tới ngọn cây. Cầu được làm xong đúng hạn. Nhưng vì làm gấp, đường lên hang lại cheo leo, hiểm trở nên số dân phu làm đường sơ sẩy té chết có tới hàng trăm. Của kho đổ ra tốn đến mười vạn lạng bạc. Cầu vững chãi, phẳng, đẹp, đi lại dễ dàng có thể rước kiệu lên xuống an toàn. Huyền Tông cùng Dương Quý phi lên đến nơi thấy quả là một chuyến du ngoạn kỳ thú, hiếm có trên đời. Và để lưu lại kỷ niệm về chuyến du lịch tuyệt diệu, vua cho tìm thợ khéo tạc lên vách núi sự việc này, để lư lại vết tích cho muôn đời sau. Ở vách núi phía Đông của bãi đất còn thấy rõ ràng chữ to cổ kính “Dương quý phi toàn dục diễm tích”. Vách đá dài quãng 10 trượng, cao lên đến 2 trượng. Trên vách đá có 10 bức tranh chạm khắc vào đá cảnh Dương Quý Phi tắm suối. Dù thời gian có làm phai đi nhưng nét chạm khắc vào đá vẫn còn rất rõ. Nào là bức quý phi cởi áo bước xuống suối, bức nàng khỏa thân ngồi trên phiến đá ngâm nửa người dưới làn nước trong vắt, bức nàng đùa nghịch té nước vung lên. Rồi bức nàng đang lội ra giữa dòng suối, ngấn nước trong xanh in vết trên tấm thân ngà ngọc… Có điều đặc biệt là bức nào cũng thấy Dương Qúy Phi từ dưới suối ngoái nhìn về phía va Huyền Tông. Nhà vua già trầm mặc ngồi tựa vào vách đá cười. Dưới các bức tranh này ghi ngày 25 tháng 5 năm Thiên Bảo thứ X (tức là năm 752 theo dương lịch). Huyền Tông thấy quý phi vui sướng, vùng vẫy trong dòng nước mát thì hài lòng lắm, truyền hậu thưởng cho quan, dân vùng đó, thế là mọi việc cũng đã được hoàn thành theo ý nguyện của vua Huyền Tông. Tuy nhiên thấy chuyến du ngoạn này làm cho của khoa hao tốn và làm thiệt mạng rất nhiều dân phu nên Huyền Tôn đã ra một lệnh cấm sử quan ghi chép và cấm ngặt không cho ai được tiết lộ việc này ra ngoài, nhằm che đậy một sự thật. Thế mà sự việc vẫn lọt ra ngoài. Truyện ngắn “Bức tranh Dương quý phi tắm suối ở Quái Nham” trong tập “Tây Bắc thảm kỳ” của Đào Ngọc Sơn đời nhà Minh năm 1368 đến 1628 đã kể lại khá rõ sự việc trên.
Ngày xưa nói: Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ
Huyền Tông muốn giấu việc này, nhưng giấu làm sao được trước con mắt người đời.
Sơn Ca – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.

Chuyện tuyệt mật về chuyến du lịch của Dương Qúy Phi – Phần 1

Hoa khôi họ Dương
Dương Ngọc Hoàn, là một trong bốn gia nhân tuyệt sắc (tứ đại Mỹ nhân) của nước Trung Hoa xưa đã đi vào lịch sử với những lời ca ngợi cực kỳ. Bốn người đẹp tuyệt vời đó là Tây Thi lạc nhạn (đẹp đến nỗi chim nhạn nhìn thấy cũng lạc cả hướng bay), Chiêu Quân trầm ngư ( cá thấy phải thẹn mà lặn xuống), Điêu Thuyền bế nguyệt (trăng thấy phải giấu mình) và Dương Ngọc Hoàn tu hoa (hoa đẹp là thế mà cũng phải thẹn so với nàng). Ngày ấy, vua Đường Huyền Tông đang buồn rầu vì cung phi sủng ái nhất là nàng Vũ Huệ phi mới mất. Viên quan hầu Cao Lực Sĩ thấy thế bèn đưa Dương Ngọc Hoàn vào cung lấy cớ là để tụng niệm cho hương hồn Vương Qúi Phi. Đúng như họ Cao dự đoán, vừa trong thấy Ngọc Hoàn nhà vua đã thấy rung động, nỗi thương nhớ người cũ mau chóng phai nhạt. Từ đó nàng thường được nhà vua mời vào cung để hầu hạ mình rồng. Chẳng bao lâu thì Huyền Tông say mê nàng còn hơn cả Huệ Phi. Nhà vua lập nàng làm quí phi, phong cha nàng làm binh bộ thượng thư. Anh họ nàng là Dương Quốc Trung được phong làm tể tướng. Uy quyền họ Dương lệc nghiêng thiên hạ. Dương Quý phi lại có tài gẫy đàn tỳ bà, sáng tác những khúc ca điệu múa làm nhà vua say đắm. Bấy giờ vua đã ngoài 50 tuổi, cung phi Mỹ nữ nhiều nên đã xuống sức. May nhờ có võ tướng nước Phiên là An Lộc Sơn dâng cho nhà vua một thứ linh đơn gọi là “trợ tình hoa”. Nhờ thứ thuốc này mà nhà vua rất mạnh mẽ về đường hoa nguyệt, có thể cùng người đẹp ân ái đêm ngày.
Cảnh đẹp quái nham
Ở phía Nam tỉnh Thiểm Tây có ngọn núi Quái Nham. Núi cao chót vót, vách đá cheo leo, muốn lên núi phải bám vào các mỏm đá, bíu dây là leo nhích từng tấc. Sơ sẩy là rớt xuống bỏ mạng. Xung quanh núi có nhiều phiến đá phẳng, phiến to như mái nhà, phiến nhỏ như mặt bàn chông chênh bám vào sườn núi như các con cóc bám vào quả đu đủ bự. Phiến nào trông cũng chênh vênh như chỉ chực rớt xuống. Riêng ở phái Nam núi có nhiều khe đá, nước chảy róc rách, cây cỏ xanh tươi. Leo lên đến lưng chừng núi thì gặp một cái hang. Cửa hang rợp bóng mát của các tầng cây to đã hàng trăm tuổi. Hang rộng, đi vào trong lối đi ngày càng rộng ra, cuối cùng đến một bãi đất lộ thiên rộng vài chục mẫu, cây cỏ xanh tươi, hoa thơm cỏ lạ đủ màu sắc tỏa hương thoang thoảng. Quanh bãi ấy, vách núi dựng đứng, có chỗ phẳng như mài, bóng loáng, mỗi phiến một màu trông đẹp vô cùng.
Sơn Ca – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.

Việt Nam ta nhất thế giới – Phần 2

Nộp phạt xong, tôi hăm hở đi tim những bãi mía mọi khi đầy rẫy ở gốc cây, bãi cỏ và những chỗ khuất, sau tấm panô chẳng hạn, để bắt quả tang những mùi khai nồng do các ông sâu bia mặt đỏ vội vã xả nước, nhưng lạ thay, không thấy một bằng chứng nào hết. Tôi thấy thất vọng vì không chứng minh được sự quan liêu của cảnh sát phong tục, đã phạt oan một người như tôi, nên không biết mình đã đến ngã tư. Không hiểu sao ngã tư mọi khi bao giờ cũng có công an đứng và phạt bao nhiêu người vượt đèn đỏ, phóng nhanh vượt ẩu, mà nay họ lại vắng mặt? Tuy vậy, giao thông trên đường phố diễn ra hết sức là trật tự. Không gặp được anh cảnh sát nào cũng dễ hiểu vì đèn tín hiệu giao thông ở đây được điều khiển hoàn toàn tự động. Tôi vội túm áo một khách bộ hành đi ngang qua, khẩn khoản: Bác ơi, các anh cảnh sát giao thông đứng chỗ nào, tôi không thấy? Ông khách nhìn tôi như nhìn người ngoài trái đất tới: ông từ trên trời rơi xuống hay sao mà không biết? Tinh thần tự giác, chấp hành luật lệ giao thông của dân ta đã đến mứ trên cả tuyệt vời, vì thế, không cần biên chế cảnh sát giao thông làm việc ở ngã tư nữa. Bác không chịu đọc báo à? Thủ đô ta đã đạt kỷ lục ghi nét về thành phố không có tai nạn xe cộ đấy. Bác đi bộ hay đi xe đều an toàn tuyệt đối! Tôi hỏi: “Thế đã hết tệ đua xe phân khối lớn chưa?”, ông khách lắc đầu hỏi lại: Đua xe là thế nào: Làm gì có chuyện đua xe tốc độ cao trong thành phố bấy lâu nay? Bác lạc hậu quá à! Trong bụng thấy đói và khát tôi rẽ vào quán bia ôm, tiện thể hát karaoke đèn mờ cho đầu óc thư giãn, nhưng đi mỏi chân vẫn không kiếm đâu ra quán có bia ôm và karaoke ôm. Tôi thắc mắc hỏi ông chủ quán bia:
Mấy hôm trước, tôi đi đâu cũng gặp bia ôm, ca fé ôm, karaoke ôm, cái gì cũng ôm. Ngoài đường cave mời chào công khai. Thế mà nay bói không ra là lẽ làm sao? Ông chủ quán cười, giảng giải: “Thế bác không biết nghị định 87/CP à! Nhờ nghị định này đã làm lành mạnh hóa môi trường văn hóa. Tôi dám cược với bác đấy, nếu bác tìm ra một hàng bia ôm hay karaoke ôm, hay một cô gái mại dâm đứng đường đấy! Ra về, gối chồn, chân mỏi, tôi thấy một xe taxi đi ngang qua liền giơ tay vẫy. Bác nhìn xem, tấm biểu ngữ hoan nghênh phải đoàn vệ sinh môi trường Singapore sang thăm và học tập vệ sinh môi trường thủ đô ta đấy. Bác đã ra sông Tô Lịch hóng mát chưa? Bây giờ không khí ở đây hết sức trong lành, nước sông Tô Lịch trong vắt như dòng sông Xen nước Pháp.Xe taxi vội dừng ngay lại, lái xe lễ phép mở cửa xe mời tôi lên. Anh ta hỏi tôi đường đi ngắn nhất, chứ không có chuyện đi loanh quanh, nhằm thanh toán tiền cước nhiều như lâu nay taxi trong thành phố vẫn chém đẹp khách. Xuống xe, giá cước rẻ ngang xe ôm, tôi vừa ngạc nhiên vừa vui, vì phong cách phục vụ của đội ngũ xe con công cộng lâu nay vẫn còn tai tiếng không hay mà lị. Có thế chứ. Nhanh thật đấy! mới đăng cai hội nghị thượng đỉnh Asean VI xong mà Việt Nam ta đã nhất thế giới. Cầm tờ báo đã có tin xóa sạch nạn trấn lột, tôi nhảy chân sáo tung tăng vào nhà, thì bỗng vấp phải bực cửa ngã xoài. Tôi hét lê một tiếng tỉnh dạy, hóa ra là một giấc mơ.Vâng, dạo phố trong mơ, hơn nữa mơ ước đầu Xuân Kỷ Mão này là điều nên làm chứ, phải không, thưa các bạn?
Vũ Phượng Ngọc – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.

Việt Nam ta nhất thế giới – Phần 1

Tôi có cái thú đi bộ dạo phố ngày đầu xuân. Tôi đang lững thững đi bộ dưới lòng đường, nghển mặt nhìn những cao tốc là 15, 20 tầng đang hoàn thiện, trong lòng thấy vui trước sự đổi mới kỳ diệu của thủ đô, thì có tiếng còi tuýt… tuýt rất đánh vang lên. Giật mình tôi thấy một anh cảnh sát giao thông, sắc phục chỉnh tề tiến lại phía tôi, giơ tay chào và nói: Đề nghị bác lên vỉa hè “lòng đường dành cho các loại xe”, bác không nhớ sao? Lần sau còn tái phạm, xin bác nộp phạt cho. Tôi định cãi: “Vỉa hè đâu có dành cho người đi bộ? Xe máy, xe đạp, hàng rong, quầy bán xổ số… trăm thứ bà rắn bày ra trên vỉa hè, có chỗ đâu cho người đi bộ”. Mặc dù nghị định số 36/CP tôi nắm rất chắc về thời gian, thi hành, về mức phạt, nhưng vỉa hè vẫn cứ bị lấn chiếm, tôi đành phải đi xuống lòng đường, nếu không, chỉ có nước… bay mà thôi. Tuy định cãi cho ra lẽ, nhưng tôi vốn biết kiềm chế, nên lẳng lặng, đi lên vỉa hè. Thật kỳ lạ! Hôm nay vỉa hè phố nào cũng rộng thênh thang, chẳng có chiếc xe máy, xe đạp nào để nghênh ngang trên vỉa hè cả. Hàng quán hôm nay cũng biến đi đâu mất mới lạ chứ! Tôi ngước nhìn lên bảng hiệu, thấy các biển quảng cáo chữ Tây mọi khi chiếm các vị trí trang trọng đầu phố cũng được tháo dỡ từ bao giờ. Mốt sính chữ Tây không còn ở thành phố này như trước kia nữa. Tôi khoan khoái rút trong túi ra chiếc kẹo cao su bỏ vào mồm, tiện tay vứt giấy thiếc và vỏ bọc xuống vỉa hè, lập tức có tiếng còi vang lên: Thưa bác, tôi là “Cảnh sát phong tục”, bác vứt rác ra hè phố, xin bác nộp phạt 50 ngàn. Biên lai đây ạ! Tôi định cãi các anh nói đùa đấy chứ! Tôi vẫn thấy người ta vứt cả chuột chết với xả rác ra đường, có ai nhắc nhở gì đâu, mà nay lại đòi phạt tôi chỉ vì vứt tờ giấy nhỏ xíu như thế? Tôi định thần nhìn lại thì … Trời ơi tôi không tin vào mắt mình nữa. Phố xá sạch bóng, dễ thường sạch hơn cả nhà tôi ở, hàng ngày vẫn được lau chùi cẩn thận, lại còn dùng cả máy hút bụi nữa. Tôi cam đoan phố phường của ta bây giờ sạch hơn Singapore là cái chắc! Trong lúc tôi móc túi lấy tiền nộp phạt, anh cảnh sát phong tục chỉ cho tôi tấm biểu ngữ căng ngang đường. Bác nhìn xem, tấm biểu ngữ hoan nghênh phải đoàn vệ sinh môi trường Singapore sang thăm và học tập vệ sinh môi trường thủ đô ta đấy. Bác đã ra sông Tô Lịch hóng mát chưa? Bây giờ không khí ở đây hết sức trong lành, nước sông Tô Lịch trong vắt như dòng sông Xen nước Pháp.
Vũ Phượng Ngọc – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.

Xin cụng ly đắng tiễn năm 1998 – Phần 2

Nó làm tôi liên tưởng tới bệnh sùng bái trong thời bao cấp…”. Đạo diễn, họa sỹ Ngô Mạnh Lân cũng lên tiếng: “Năm 1992, phim hoạt hình được sản xuất 9 bộ…. năm 1998 này, Nhà nước chỉ tài trợ cho hoạt hình 3 bộ phim! Làm ít phim, tiền tài trợ ít, anh chị em không có việc, nghỉ chờ dài dài ở nhà, đời sống càng thêm khó khăn. Và cái không khí nhàn cư ấy đã trực tiếp tác động đến cái chung, không tìm thấy sự thanh thản và hứng khởi để đầu tư vào sáng tác….”. Trong dịp kỷ niệm 45 năm ngày thành lập ngành điện ảnh, các đạo diễn Mai Lộc, Khương Mễ, nghệ sĩ ưu tú Tuệ Minh… rồi Minh Châu, Như Quỳnh, Thanh Quý, Vũ Đinh Thân, Phương Thanh, Diệu Thuần… đều ngậm ngùi thổ lộ nỗi ngao ngán và thất vọng về tương lai của nền điện ảnh nước nhà. Giáo sư Nguyễn Lân Dũng đã bắt mạch cho ngành điện ảnh trong một bài báo, và cho rằng căn bệnh trầm kha của Điện ảnh Việt Nam là căn bệnh suy dinh dưỡng! Liệu có thể có một thứ đạm, một từ sữa đặc hiệu nào có sức màu nhiệm để cứu vớt một cơ thể rã rời và nhiễm đầy tật bệnh như cơ thể ngành Điện ảnh Việt Nam hôm nay?
Một vụ xi căng đan rất nực cười của điện ảnh Việt Nam năm qua là vụ kiện của tác giả Nguyễn Kim Ánh với đạo diễn Phạm Lộc và Hãng phim truyện I. Các quan tòa đã phải bỏ ra nhiều tháng để xử vụ kiện có một không hai trong lịch sử Nghệ thuật thứ bảy này. Nguyên do căn cốt là vì, các vị giám khảo cuộc thi viết kịch bản phim truyện không hiểu vì sao lại đem giải thưởng hạng hai (Không có hạng nhất) trao cho một kịch bản nghiệp dư, vừa cải lương, vừa sáo. Nhà biên kịch nghiệp dư kia bỗng không chịu nghe ai khuyên can nữa, quyết dựa vào Luật bản quyền mà kiện Đạo diễn và Hãng phim đã xuyên tạc và bôi nhọ kịch bản của ông. Trong vụ kiện hy hữu này, tôi không thấy sự xuất hiện của những bị can thực sự! Có một sự thật là, ngành Điện ảnh Việt Nam đang chết chìm trong ngoi ngóp. Vậy mà người ta vẫn mang hàng chục tỷ đồng của Nhà nước tài trợ để xây dựng, những Trung tâm kỹ thuật điện ảnh ở cả hai miền Bắc, Nam. Mỗi năm sản xuất chừng hai bộ phim rưỡi, đã có tới năm Hãng phim rồi, lại còn hai trung tâm kỹ thuật điện ảnh nữa, không biết dùng để làm gì?
Thực trạng của ngành điện ảnh hôm nay, còn tác động rất xấu, rất tiêu cực tới vấn đề đào tạo thế hệ nghĩa sĩ điện ảnh trẻ. Trong một cuộc trò chuyện với giáo sư phó tiến sĩ Nguyễn Mạnh Lân – nhà quay phim ưu tú. Hiệu trưởng Trường đại học sân khấu điện ảnh Hà Nội, ông cho biết: hiện tại, ngành điện ảnh đang thực sự mất phương hướng, đó có ảnh hưởng trực tiếp tới qui trình đào tạo của nhà trường. Không có một cái nhìn mang tính tổng thể, vĩ mô, thì sau năm 2000. Điện ảnh Việt Nam vẫn không thoát khỏi sự khủng hoảng. Bây giờ là khủng hoảng thừa, tương lai sẽ là khủng hoảng thiếu. Ngày xuân mà chỉ nói toàn chuyện đáng buồn, thật không phải lẽ. Nhưng không nói ra, cứ ấp úng “ngậm bồ hòn làm ngọt” thì ngay cả miếng giò lụa ngày Xuân cũng chẳng thể nuốt trôi. Xin cụng Ly đắng này với các nhà điện ảnh.
Trịnh Thanh Sơn – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.

Xin cụng ly đắng tiễn năm 1998 – Phần 1

Mười năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới, cả đất nước, như bừng thức trong chuyển động của một nội lực mới, phấn khởi và đầy tự tin. Những thành tựu về kinh tế và xã hội… đã làm cho gương mặt đất nước ngày một rạng rỡ. Văn học nghệ thuật nói chung và Điện ảnh nói riêng cũng gặt hái được những thành tựu và bài học đáng kể. Tuy nhiên, thành tựu thì ít, mà bài học thì nhiều. Năm 1998, là năm kỷ niệm 45 năm ngày thành lập ngành Điện ảnh Việt Nam, một cái mốc lớn của tuổi trưởng thành. Nhà nước và nhân dân đã không quên những đóng góp và công lao to lớn của ngành Điện ảnh trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ và giải phóng Tổ quốc, đã tặng cho ngành Điện ảnh Huân chương Độc lập, một phần thưởng to lớn và đáng tự hào. Đội ngũ nghệ sỹ và cán bộ Điện ảnh hôm nay đã thật sự đông đảo. Nhiều tên tuổi nghệ sỹ, nhiều thế hệ nghệ sỹ đã được đông đảo người xem mến mộ. Song dường như những vinh quang hôm qua đang dần lùi vào quá khứ. Những người từng gắn bó cả đời mình với ngành điện ảnh, hôm nay nhìn nhau đều phải ngao ngán thở dài. Nhiều người lâm vào tình trạng vô vọng, mất phương hướng, thúc thủ đợi chờ, chờ đến nỗi một đạo diễn trẻ vô phương trở thành đạo diễn già, mặc dù năm tháng cứ đi qua và tốc trên đầu dần bạc xóa. Chúng ta đều biết Điện ảnh vừa là nghệ thuật, vừa là một ngành công nghiệp có quy trình sản xuất rất phức tạp, cần nhiều kỹ thuật và máy móc chuyên dụng, với số vốn đầu tư ban đầu cho mỗi bộ phim lên tới những con số khổng lồ. Cho tới nay, ngoài sự đầu tư của Nhà nước, chưa hề có một tổ chức hay cá nhân nhà doanh nghiệp nào dám bỏ tiền ra để sản xuất phim nhựa. Nhà nước trước sau như một, vẫn ưu ái đối với ngành Điện ảnh mỗi năm dành cho hoạt động điện ảnh hàng chục tỷ đồng, nhưng số tiền đó cũng chỉ như muối bỏ biển, bởi có đem tất cả số tiền đó để sản xuất phim thì cũng chỉ được vài ba tác phẩm, không thể nuôi sống 5 hãng phim quốc doanh mà số lượng nghệ sĩ và công nhân viên lên tới hàng nghìn người. Vẫn dùng tiền đầu tư của Nhà nước để làm phim, nhưng mấy năm gần đây, chất lượng nghệ thuật của điện ảnh Việt Nam, giảm sút nghiêm trọng, đến nỗi, mỗi bộ phim truyện mới ra lò, được chiếu chiêu đãi cho hội viên ở câu lạc bộ điện ảnh, hội điện ảnh Việt Nam, mà cũng chẳng có mấy người tới xem, càng ít người xem cho tới cuối buổi chiếu. Lại nữa, những bộ phim truyện, phim tài liệu và khoa học, phim hoạt hình sản xuất ra, không biết đêm chiếu ở đâu, vì hệ thống rạp chiếu bóng (có phương tiện chiếu phim sản xuất xong, nghiệm thu xong, đem cắt vào kho, đợi cho tới khi nào phim đã mốc, đã xước mới đem tới nhờ Đài truyền hình phát sóng hộ. Một bộ phim truyện nhựa tốn tới một vài tỷ đồng, khi đó không bằng (về chất lượng hình ảnh và âm thanh) một bộ phim truyền hình sản xuất chỉ tốn chừng 100 triệu. Tiền của nhà nước và nhân dân bỏ ra để làm phim mà sản phẩm làm ra không tới được với người xem, không phát huy hiệu quả tuyên truyền hay thẩm mỹ, cái lỗi đó thuộc về ai?
Trong một bài viết gần đây, đạo diễn, nghệ sỹ nhân dân Hải Ninh đã lên tiếng phàn nàn: “Trong điện ảnh, chúng ta thiếu dân chủ một cách nghiêm trọng. Tiếng nói của anh em nghệ sĩ, anh em quản lý không được trên nghe. Trước kia, thỉnh thoảng còn được ông này, ông nọ xuống nghe, đến khi chuyển sang cơ chế thị trường thì khỏi bàn… chúng ta kính trọng những người quản lý ở trên, nhưng theo tôi, cũng cần tôn trọng chuyên môn của ngành, không thể cứ có chức vị thì cái gì cũng biết được.
Trịnh Thanh Sơn – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.

Dịch vụ nhắn tin Việt Nam (107) sự nhức nhối và đôi điều suy nghĩ

Dịch vụ nhắn tin Việt Nam (107) là dịch vụ nhắn tin toàn quốc đã ra đời và đi vào hoạt động được hơn ba năm. Đến nay toàn mạng nhắn tin Việt Nam (107) đã có khoảng 41 nghìn thuê bao. So với mạng nhắn tin cục bộ của Bưu điện Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng (Tổng cộng khoảng 100 nghìn thuê bao) thì sự phát triển của thuê bao, nhắn tin Việt Nam chưa đáng kể. Được biết lãnh đạo ngành Bưu chính Viễn thông và các đơn vị quản lý khai thác hệ thống nhắn tin Việt Nam cũng trăn trở suy nghĩ về vấn đề này và đã có những giải pháp tích cực như hạ giá cước thuê bao nhằm thúc đẩy sự phát triển. Phải chăng đây là sự tác động tích cực của nhà khai thác nhưng chưa đúng với sự mong mỏi của các thượng đế (khách hàng) nên chưa tạo ra sự chuyển biến? Chúng ta lần lượt xem xét một số vấn đề để trả lời câu hỏi trên: Thứ nhất: về công nghệ của nhắn tin Việt Nam là công nghệ Pocsag, nhắn tin một chiều bản tin dung chữ và số Về Công nghệ này cũng giống như công nghệ của các hệ thống nhắn tin ABC tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh – Qua tìm hiểu thu thập ý kiến khách hàng chúng tôi thấy rằng đại đa số chấp nhận công nghệ này và cho rằng khá tiện dụng.
Thứ hai: Về nhu cầu thị trường, ở các nước trên thế giới số người dùng máy nhắn tin nhiều hơn số người dùng máy di động. Hiện tại ở Việt Nam không phải như vậy và ngược lại. Thử hỏi rằng lý do tại đâu? Nếu về công nghệ khách hàng đã chấp nhận thì còn lại là vấn đề gì?
Thứ ba: về kinh tế, giá của một máy đầu cuối nhắn tin do thuê bao sử dụng hiện tại nằm trong khoảng từ 1 đến 2 triệu đồng. Mức giá như vậy xấp xỉ bằng một máy điện thoại di động thường bình. Như vậy là cao so với những người sử dụng máy nhắn tin ở Việt Nam – về cước phí thuê bao hàng tháng cũng như về cước của người gọi để nhắn tin có thể chấp nhân được. Thiết nghĩ Bưu điện Việt Nam nên có chính sách trợ giá máy đầu cuối nhắn tin hoặc tìm mọi cách khai thác để có hạ giá máy đầu cuối nhắn tin hoặc tìm mọi cách khai thác để có thể hạ giá máy đầu cuối cho phù hợp với người tiêu dùng. Điều chắc chắn, khi hệ thống điện thoại triển khai rộng khắp ở các tỉnh thì máy nhắn tin cộng với điện thoại thẻ sẽ trở thành một phương tiện thông tin, di động hai chiều rất tiện lợi lại rẻ tiền. Khi đó nhu cầu sử dụng máy nhắn tin của xã hội sẽ tăng lên đột biến. Và phải chăng đây là điều đáng mừng cho ngành Bưu chính Viễn thông?
Hiện đại hóa công nghệ chuyển mạch, truyền dẫn ở các đơn vị cơ sở trong ngành bưu điện.
Quang Thanh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.