Châu Khê cần một hướng đi bền vững

Ngôi làng cổ Châu Khê thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bắc Giang , Hải Dương nằm dọc tả ngạn sông Cửu An đã gần một ngàn năm. Châu Khê ngày nay đang giữ cho mình một hình ảnh một ngôi làng cổ Bắc Bộ yên bình với những nếp nhà ngói xinh xắn ẩn mình trong vườn cây xanh mướt. Trong khung cảnh làng quê trù phú ấy, có một Châu Khê nổi tiếng với nghề kim hoàn đang cần có hướng phát triển bền vững.
Châu Khê bước vào nghề vàng bạc năm 1461, khi vua Lê Thánh Tông giao cho Thượng thư bộ lại Lưu Xuân Tín là người làng Châu Khê giữ trọng trách đúc bạn nén làm tiền tệ cho kinh thành Thăng Long. Trải qua bao năm biến động thăng trầm, làng kim hoàn Châu Khê đã quay về nghề cổ truyền khi đất nước thực hiện chính sách mở cửa. Những tinh hoa của nghề chế tác vàng bạc một lần nữa được nâng niu bởi những đôi bàn tay khéo léo, kiên trì, cần mẫn của người thợ làng Châu. Ngày nay, đời sống xã hội nhìn chung đang được nâng cao nên tay nghề vàng bạc Châu Khê có cơ hội phát triển. Những hộ gia đình có tay nghề cao, tìm được nhiều nguồn tiêu thụ sản phẩm sẽ có thu nhập trung bình khoảng 1,5 triệu đồng/tháng và cuộc sống khá ổn định.
Tuy cuộc sống nhân dân ở đây hiện tại tương đối khá giả nhưng làng nghề kim hoàn Châu Khê đang một định hướng phát triển lâu dài. Hiện tại, người dân nơi đây chưa bằng lòng với mức thu nhập nhờ nghề kim hoàn. Do đó, nhiều hộ gia đình khi tích lũy đủ vốn thường vươn ra các thành phố thị xã… mở tiệm vàng, vừa sản xuất vừa kinh doanh với thu nhập khoảng 60 – 60 triệu đồng mỗi năm. Đồng thời, không ít thợ kim hoàn của làng ra Hà Nội làm thuê ở các tiệm vàng để có thu nhập cao hơn. Những hộ ở lại làng chủ yếu gia công chế tác rất thấp. ông Lê Văn Vui, một thợ thủ công ở làng cho biết: “Tiền công chế tác giờ đây ngày càng thấp thì số lượng thợ đông. Trước kia, tiền cồn đánh một sợi dây chuyền bạc là 5.000 đồng, nay giảm xuống còn 2.000 đồng. hiện tại ở làng ít chế tác vàng vì tiền vốn lớn và khi đem ra buôn bán dễ mất mát”. Như vậy, Châu Khê muốn phát triển bền vững thì phải giải quyết không ít khó khăn mà trước mắt là tìm nguồn vốn, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm để khuyến khích thợ thủ công gắn bó với làng nghề. Ông Phạm Minh Tiến, chủ nhiệm dự án “Phát triển mỹ nghệ kim hoàn Thúc Kháng” cho biết: “Chúng tôi đang đề nghị UBND tỉnh xem xét chuyển dịch khoảng 6.000 – 10.000 m2 đất nông nghiệp để xây dựng phố làng ở ngách làng cổ. Khi đó, phố làng nghề Châu Khê sẽ đá ứng được mọi nhu cầu mỹ nghệ kim hoàn của khách hàng, giúp thợ thủ công yên tâm sản xuất ngay tại làng nghề, nâng cao thu nhập của thợ và đem lại nguồn thu nhập cho địa phương”.
Những cố gắng của nhân dân làng nghề Châu Khê trong việc phát triển ngành nghề truyền thống có rất nhiều ý nghĩa, không chỉ dừng lại ở việc sản xuất ra bao nhiêu sản phẩm, bao nhiêu tiền mã đã giải quyết nhiều vấn đề xã hội như việc làm, chuyển dịch cơ cấu nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời tạo ra tour du lịch giới tinh hoa văn hóa làng nghề Việt Nam nói chung và làng nghề Châu Khê nói riêng. Tại Hội nghị Phát triển ngành nghề nông thôn ác tỉnh phía Bắc tổ chức tại Hà Nội vừa qua, Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn đã đưa ra 10 vấn đề đòi hỏi các ngành liên quan đến phát triển ngành nghề nông thôn cùng phối hợp thực hiện cho tốt. Theo đó, làng nghề Châu Khê cần được quan tâm của sở Thương mại – Du lịch và Sở Văn hóa Thông tin Hải Dương để tháo gỡ những vấn đề: tín dụng, quy hoạch đất cho phố làng nghề, thông tin để tiếp cận với thị trường trong và ngoài nước, đưa công nghệ mới vào các làng nghề thủ công, góp phần cải tạo, bảo vệ môi trường cho làng nghề. Nếu sớm được đầu tư phát triển, làng nghề Châu Khê sẽ có những bước tiến vững chắc và chắc chắn trở thành một sản phẩm du lịch mới của ngành du lịch.
An Giang: Tổ chức chương trình tham gia tour Núi Cấm.
Khu du lịch Lâm Viên Núi Cấm An Giang tổ chức chương trình tham gia tour Núi Cấm với tour 1 ngày và tour 2 ngày 1 đêm. Theo đó, ở tour một ngày du khách sẽ được leo núi và tham quan các điểm Vồ Thiên Tuế, suối Thanh Long, Giếng Nước, thao trường vua Gia Long, đền thờ Võ Đế, Vồ Đầu, Vồ Ông Bướm, Vồ Trăm Họ, Điện 13 tầng, Hang Ông Thẻ, Bát Tiên, chùa Vạn Linh, điện Huỳnh Long. Ở tour 2 ngày 1 đêm có thêm tuyến điểm Điện Bồ Hong, Điện Tam Thanh, Điện Râu Tần. Chương trình tham quan tour Núi Cấm trọn gói hoặc từng phần theo yêu cầu của du khách, có hướng dẫn viên và các dịch vụ khác: Cắm trại dã ngoại về đêm, đặt phòng, các món ăn đặc sản vùng Bảy Núi. Theo Ban Giám đốc khu du lịch Lâm Viên Núi Cấm thì vào mùa cao điểm năm nay, các khách sạn, nhà nghỉ vẫn giữ mức giá như ngày thường.
Quảng bá du lịch nước ngoài gặ nhiều trở ngại.
Hiện nay để khách nước ngoài vào viết bài, chụp ảnh, làm thêm quảng bá cho du lịch Việt Nam còn rườm rà, chi phí tốn kém. Đồng thời, nhiều địa phương thu phí quay phim, chụp ảnh tại điểm du lịch rất cao khiến khách bị ức chế, các ấn tượng tốt về chuyến đi.
Quỳnh Hoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Cần có cơ chế để du lịch cùng bảo tồn di tích

“Văn hóa là nguyên nhân nội sinh của Du lịch”. Hà Nội là địa phương điển hình của cả nước về sự phong phú tiềm năng Du lịch dựa trên những giá trị Văn hóa. Vậy sự phối hợp giữa hai ngành Du lịch và Văn hóa ra sao và làm thế nào tăng cường mối quan hệ đó vì sự phát triển của hai phía. Ông Nguyễn Viết Chức – Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin Hà Nội cho biết:
Hai ngành Văn hóa, Du lịch của Hà Nội có sự phối hợp rất chặt chẽ, biện chứng. Dự kiến vào tháng 10 tới, hai ngành tổ chức một liên hoan du lịch tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Chúng tôi sẵn sàng dành địa chỉ Văn hóa quý giá nhất thành phố phục vụ Du lịch, cho dù nếu có sơ suất, Văn hóa sẽ phải chịu trách nhiệm. Bởi vì chúng tôi nhận thức rằng, hai ngành phối hợp chặt chẽ với nhau sẽ giảm thiểu tối đa vấn đề Du lịch ảnh hưởng không tốt đến giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Quan trọng hơn, Du lịch phát triển sẽ đóng góp khá lớn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả thành phố…
Nghĩa là ở ngành Văn hóa Hà Nội không tồn tại quan niệm “Văn hóa còng lưng làm để Du lịch thu lợi nhuận”?
Rất đúng. Không nên hiểu cục bộ phiến diện là ai thu lợi. Ai thu được cũng làm cho dân giàu nước mạnh cả.
Theo ông, cần phải làm gì để mối quan hệ giữa Văn hóa – Du lịch chặt chẽ hơn?
Hiện nay một mình Văn hóa không thể trùng tu, tôn tạo xuể hàng ngàn di tích lịch sử trên địa bàn Hà Nội. Chúng tôi không ôm khư khư trách nhiệm này để giành các dự án nhằm kiếm chút lợi lộc mà sẵn sàng chia sẻ với bất cứ ngành nào và tôi thấy Du lịch là hợp lý nhất. Vậy phải có cơ chế, chính sách trích một phần doanh thu mà ngành Du lịch nộp ngân sách nhà nước phục vụ công tác bảo tồn di tích. Đương nhiên chúng tôi vẫn phải tổ chức chặt chẽ về quản lý nhà nước để tránh sai sót. Như vậy Văn hóa và Du lịch mới thực sự cùng phát triển được, Thực tế cho thấy hai ngành Văn hóa và Du lịch Hà Nội đã bàn bạc cùng tôn tạo một số di tích lịch sử, còn khó vì vướng về nhận thức của một số bên khác. Tổng cục Du lịch cũng cần bàn bạc với Bộ Văn hóa – Thông tin ban hành văn bản liên tịch chỉ đạo việc phối hợp giữa Văn hóa – Du lịch ở cấp địa phương.
Xin cảm ơn ông.
Bốn dự án du lịch mới của hà nội
Sở Du lịch Hà Nội vửa quyết định giao nhiệm vụ chủ đầu tư bốn dự án: Tuyến du lịch sông Hồng cho Công ty Du lịch Hà Nội, khu nghỉ cuối tuần đường cao tốc Hà Nội – Hòa Lạc cho Công ty Du lịch và Thương mại Hà Nội, khu vui chơi giải trí Sóc Sơn cho Công Ty Du lịch Dịch vụ Hà Nội, khu vui chơi giải trí Đông Anh cho Công ty Du lịch Thương mại Cổ Loa.
Bốn doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện các bước lập dự án đầu tư theo đúng quy định về quản lý đầu tư, xây dựng, quy hoạch, huy động và sử dụng vốn. Đây là những dự án quan trọng góp phần đổi mới, phát triển du lịch Thủ đô cũng như nâng cao điều kiện sống cho người dân khu vực Hà Nội và các vùng phụ cận. Những dự án trên nằm trong chương trình phát triển Du lịch Thủ đô từ nay đến năm 2010 và những năm sau.
Do cơ sở vật chất như sân bãi: trang thiết bị dụng cụ để luyện tập, thi đấu… đã được các địa phương đầu tư đáng kể, nhất là cho các môn thế mạnh của mình nên các giải thi đấu trong nước sẽ không còn tập trung vào các trung tâm, thành phố lớn như trước. Các địa phương đủ điều kiện đều mong muốn và sẵn sàng đăng cai giải toàn quốc, nhằm khẳng định phong trào của địa phương và nâng cao thành tích trước các đối thủ trên toàn quốc.
Trịnh Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Hàng lưu niệm cần có chiến lược

Mua quà lưu niệm để làm kỷ vật cho một chuyến đi, ở một di tích, danh thắng v.v… là một trong những nhu cầu của người đi du lịch. Nắm bắt được tâm lý của khách, tại hầu hết một số điểm trên thế giới, người ta có hẳn chiếc lược sản xuất hàng lưu niệm, để thỏa mãn nhu cầu khách tham quan, đồng thời tạo được nguồn thu đáng kể. Nhưng hàng lưu niệm ở các điểm du lịch của Việt Nam thì sao?
Hiện nay, thì trường hàng lưu niệm cho du khách cũng được mở rộng và cải tiến một bước. Nhiều điểm du lịch đã có các sản phẩm đặc trưng, tạo được dấu ấn đệp trong lòng du khách.Sapa có các mặt hàng ví, áo ghi lê… làm bằng thổ cẩm với hoa văn tuyệt đẹp làm mơ hoặc lòng người. Quốc Tự Giám Hà Nội có những chùa rùa đá cõng trên lưng tấm bia đặc trưng riêng của nơi đây. Đến Lăng Bác, là những chiếc nhà sàn xinh xắn, gợi cho ta thấy đâu đây trong căn nhà đơn sơ, Hồ Chủ Tịch đang ngồi làm việc. Về xứ Huế mộng mơ, nhìn chiếc nón bài thơ đã thấy phản phất hồn dân Việt, làm xao xuyến hồn lữ khách. Thánh địa Mỹ Sơn có hình vũ nữ Chăm với điệu múa Apsara, mô hình tháp chăm bằng gạch nung xinh xắn như muốn gửi đến du khách lời sâu lắng qua từng nét chạm. Về phố cổ Hội An, chiếc đèn long muôn sắc cùng những con tò he bằng đất nung mang đậm nét văn hóa dân gian. Đà Lạt có bán những bức tranh thủy mạc được vẽ trên lụa để khi trở về du khách vẫn thấy xứ sở thơ mộng, trữ tình còn ở bên mình. Nhiều điểm du lịch ở Tây Nguyên, mô hình nhà rông, đàn T’ rưng là các sản phẩm mang đậm nét văn hóa của vùng cao nguyên lộng gió, được du khách đặc biệt mến mộ.
Theo nhận xét của nhiều du khách, đặc biệt là khách ngoại quốc thì, hàng lưu niệm của ta rẻ: đàn T’rưng nhỏ 40.000 – 50.000 đồng, nhà sàn từ 15.000 – 60.000 đồng, những chiếc giỏ bằng mây tre, có họa tiết đẹp chỉ từ 10 – 20.000 đồng. Những sản phẩm cần đến bàn tay khéo léo, kỳ công của các nghệ nhân giá vài trăm đến vài triệu đồng… Mặc dù vậy nhưng họ vẫn cho rằng, hàng lưu niệm ở ta chưa phong phú về kiểu dáng, mẫu mã cũng như chuẩn loại. Ông Vũ Vĩnh Phú – Phó giám đốc Sở thương mại Hà Nội, Ủy viên Ban chỉ đạo phát triển du lịch TP. Hà Nội nhận định: “Hà Nội là địa bàn thu hút được đông đảo khách trong nước và quốc tế. Nhưng hàng lưu niệm còn đơn điệu, thiếu bản sắc nên chưa tạo được ấn tượng với khách du lịch”. Ông Pichai Rakatasinha – Giám đốc Phân ban du lịch, Trung tâm ASEAN nhận xét: “Sản phẩm hàng lưu niệm của Việt Nam chưa có sự đồng bộ về số lượng và chất lượng. Cũng như chưa thể hiện được tính độc đáo, nét đặc trưng của mỗi vùng du lịch…”
Thực tế, những địa phương tạo được hàng lưu niệm có tính đặc trưng như Hội An, Huế, Sapa… còn quá ít. Du khách động Phong Nha Quảng Bình có thể tìm được gì ngoài vài chiếc áo phông, mũ in chữ Phong Nha mà sản phẩm này ở nhiều nơi khác cũng có, chỉ khác chăng là chữ in trên sản phẩm mà thôi. Như thế làm sao tạo được ấn tượng? Hà Tây – địa danh có nhiều điểm du lịch hấp dẫn, nhưng đến đây bạn sẽ tìm được gì? Chùa Hương – nơi “Nam thiên hạ đệ nhất động” mà dấu ấn chỉ là nhẫn mạ, chuỗi tràng hạt hay mấy chiếc khánh đồng hoặc nhựa! Hay cụm Sơn Tây – Ba Vì, ta tìm gì độc đáo? Trong khi đây là nhiều làng nghề độc đáo truyền thống nổi tiếng: lụa Vạn Phúc, khảm trai, điêu khắc, sơn mài… Sao không tạo nét đẹp riêng bằng chính các sản phẩm của địa phương để giới thiệu ở các điểm du lịch: một người bạn của tôi sau khi đi Phan Rang trở về phàn nàn: “Các điểm du lịch gần như không có cửa hàng bán đồ lưu niệm”. Tại sao vùng đất dân tộc chăm sinh sống. Với nền văn hóa đặc sắc và có nhiều sản phẩm hấp dẫn: gốm, thổ cẩm nổi tiếng từ bao đời, được du khách trong và ngoài nước ưa chuộng. Vậy mà ngành du lịch Ninh Thuận vẫn chưa biến thành sản phẩm du lịch, quả là đáng tiếc! Nhiều nơi khác: Vũng Tàu, Nha Trang, Thanh Hóa… khách mua được gì để gọi là đặc trưng phố biển?
Đâu là nguyên nhân của tình trạng trên? Trước hết, những nghệ nhân có tay nghề tinh xảo và sự sáng tạo độc đáo ở ta chưa có nhiều. Hơn nữa, nhiều làng nghề truyền thống đã bị teo tóp do sản phẩm không phù hợp. Còn lại, phần lớn tồn tại tự phát, không có sự định hướng, đầu tư của Nhà nước. Vì thế người sản xuất không nắm được nhu cầu, tâm lý khách du lịch. Sản phẩm làm ra không có thị trường tiêu thụ. Đến như anh Nguyễn Văn Trung một nghệ nhân của một làng nghề mây tre đan Phú Nghĩa, Chương Mỹ, Hà Tây, người được tặng giải “Bàn tay vàng” của Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam, có nhiều sản phẩm trưng bày tại các bảo tàng trong nước và quốc tế cũng phải than thở: “Tôi làm chủ yếu theo đơn đặt hàng, chứ chưa dám tự sản xuất, vì không nắm bắt được thị trường nên sợ ép giá”.
Vậy làm gì để hàng lưu niệm Việt Nam thực sự khẳng định được vị trí của mình. Phần lớn các nghệ nhân có tên tuổi đều mong muốn được sự ổn định định hướng của Nhà nước để phát triển nghề truyền thống. Hơn nữa, giám đốc của một Công ty Du lịch lớn tại Việt Nam cho biết: Sở dĩ các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia… có nhiều hàng lưu niệm ấn tượng và những đặc trưng là do họ có chiến lược sản xuất. Phải chăng hàng lưu niệm Việt Nam chưa tìm được hướng đi là bởi có một chiến lược phù hợp tình hình hàng lưu niệm góp phần tạo sự phong phú cho sản phẩm du lịch, là cầu nối cho các điểm trong nước và các nước với nhau. Du lịch Việt Nam được bạn bè quốc tế biết đến không chỉ bằng phương pháp tuyên truyền quảng bá, mà còn bằng hình thức thông qua hàng lưu niệm. Từ Việt Nam trở về, họ giới thiệu đất nước chúng ta bằng những kỷ vật cụ thể. Như vậy, tác dụng chẳng thiết thực hơn hay sao!
Bích Loan – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 221 (186) 2001

Phát triển du lịch tại Quê Lâm, Trung Quốc

Phát triển du lịch tại Quê Lâm, Trung Quốc, Quế Lâm, một trong những điểm du lịch đầu tiên ở Trung Quốc đã đón được khoảng 1 triệu lượt tới tham quan vào năm 2000, tăng 40 % so với năm 1999. Tổng thu nhập từ du lịch của thành phố cả khách quốc tế và nội địa là 0,4 tỷ USD.
Giám đốc cơ quan du lịch thành phố, ông Zhong Xinmin cho biết sở dĩ du lịch Quế Lâm đạt kết quả trên là do trong nhiều năm việc cải tạo xây dựng được tiến hành trên quy mô rộng lớn và vấn đề môi trường ở đây được bảo vệ rất chặt chẽ. Đó cũng là kết quả của những cải tạo trong cách quản lý các hoạt động du lịch và các tour trọn gói.
Quế Lâm được thế giới biết đến là nơi có những phong cảnh trữ tình và sông Li Giang đẹp như tranh vẽ. Từ năm 1999 thành phố đã tập trung cải tạo nâng cấp để biến nơi đây thành một thành phố du lịch. Những con đường được mở rộng, những ngôi nhà cũ kỷ được phá dỡ nhường chỗ cho những căn phòng đủ tiện nghi và 24 chiếc cầu được xây dựng lại.
Cùng với những cố gắng về vấn đề môi trường, một số công viên rộng 72,5 héc ta, điểm khởi hành tới ba tuyến hành trình ngắm cảnh thiên nhiên gồm sông Li Giang và núi Vòi Voi đã được lựa chọn làm vị trí đi lại không mất tiền.
Quế Lâm đã được đầu tư 73 triệu USD vào các đề án bảo vệ sông Li Giang bao gồm việc xây đê, đập, nạo vét sông để tàu bè qua lại được và xây dựng các nhà máy xử lý nước cống. Bên cạnh đó hiện nay 4 cái hồ ở tổng thành phố kết nối với sông Li Giang và sông Hoa Đào đã được nạo vét khôi phục có hiệu quả nguồn nước trong vùng. Thành phố cũng tiến hành cải tạo trên một quy mô rộng lớn điều kiện đi lại trên dông và chất lượng nguồn nước.
Những người điều hành tour đã phát triển mạnh các sản phẩm du lịch để tận dụng từ các sự nâng cấp này. Một tour trọn gói đi trên sông bằng tàu thủy vào ban đêm khởi hành tại Yangdi ngược dòng 40 kmm với Yangdi. Ngoài ra còn có ba tour khác cho khách du lịch lựa chọn là tour đi trên sông Li Giang, tour ngắm cảnh trên các hồ ở trong thành phố và tour ba công viên nước Yangsu Sister Liu.
Cơ quan du lịch thành phố Quế Lâm cũng đang lên kế hoạch phát triển tour du lịch trong gói hai ngày tạo điều kiện cho khách du lịch được chime ngưỡng cảnh mặt trời lặn trên sông Li Giang.
Nhằm tổ chức hợp lý hóa cho có hiệu quả hơn việc quản lý các hoạt động du lịch, thành phố Quế Lâm đã thành lập hai trung tâm, một nơi bán vé, giải quyết gấp các vấn đề liên quan đến tàu bè và các thủ tục thanh toán, một số giải quyết các vấn đề khác liên quan đến các tour ở sông Li Giang. Sự chuyển biến tích cực này nhằm loại trừ tận gốc trong qua khứ có nhiều bộ phận dính líu đến quản lý tour du lịch, kết quả là du khách phải chịu chi phí cao và hiệu quả công việc lại thấp.
Thành phố cũng đã lắp đặt hệ thống thông tin du lịch nhằm kết nơi tất cả các nơi điều hành trong vùng. Ngoài ra hệ thống còn chỉ dẫn bằng điện tử cho các tour du lịch tại sông Li Giang đã được phát triển thành nhiều loại ngôn ngữ khác nhau.
Từ năm 1850 – 1900 thời đại thép – nhôm – động cơ nổ
Năm 1856 – Bétxơme đã cải tiến cách luyện thép bằng phương pháp thổi không khí vào lò luyện khi quặng đang nóng chảy. Trước năm 1856 giá thép trên thị trường rất đắt và người sản xuất thép chỉ sản xuất với một số lượng ít vì sợ không bán được.
Nhờ có Bétxơme mã vào nửa cuối thế kỷ 19, thép được sản xuất đại trà, giá thành rẻ. Thép được sử dụng rộng rãi vào việc xây cầu, làm nhà, làm đường ray xe lửa…
Năm 1890 – Khánh thành chiếc cầu thép lớn đầu tiên trên thế giới. Cầu xây dựng mất 50 nghìn tấn thép tại xứ Êcốtxơ. Sau đó, nhờ có những dây cáp bằng thép, tại nước Anh và các nước khác ở châu u đã xây dựng nhiều cầu treo qua sông.
Năm 1890 – Nhờ có các dầm bằng thép, người ta đã xây được nhiều nhà chọc trời ở các nước phát triển.
Năm 1886 – Trước năm 1886, kim loại nhôm thuộc loại quý hiếm và đắt không kém bạc ngày nay. Thời đó các đồ dùng bằng nhôm: bát dĩa, lọ hoa, chậu rửa, cốc, thìa… thuộc loại hàng và chỉ thấy ở các cung điện vua, chúa hoặc ở các nhà giầu. Vua Napôleôn III rất ưa chuộng các đồ gia dụng bằng nhôm. Vào giữa thế kỷ 19, cách nay 150 năm, một fun nhôm (bằng 453,6 gam) được bán với giá 40 đồng tiền rúp bằng vàng ở Mátxcơva.
Từ năm 1886, công nghiệp luyện nhôm bằng phương pháp điện phân đã làm cho giá thành nhôm hạ đi nhiều lần, khiến kim loại nhôm trở nên thông dụng trong dân gian.
Ở Việt Nam, quặng nhôm có ở nhiều nơi, song nhiều nhất thấy ở Tây Nguyên, ước tính tới 1,2 tỷ tấn. Nếu tính cả loại quặng nhôm lẫn latêrít sắt thì trữ lượng khoảng 6 tỷ tấn.
Công nghiệp luyện kim bằng phương pháp điện phân tốn kém một năng lượng điện rất lớn. Nay mai khi ta xây dựng thêm được nhiều nhà máy thủy điện thì chắc chắn công nghiệp luyện nhôm sẽ phát triển mạnh ở nước ta.
Năm 1860 – Lơnoa phát minh ra động cơ đốt trong. Loại động cơ này có nhiều ưu điểm so với động cơ hơi nước vì không cần phải có nồi xúp-de, không cần phải đốt lò liên tục và tránh được hiện tượng nổ nồi xúp-de rất nguy hiểm.
Năm 1876 – Nicôlai Ốtô chế tạo ra động cơ nổ 4 chu kỳ chạy bằng ét-xăng. Từ loại động cơ này, các nhà khoa học nghĩ ra việc chế tạo ô tô và máy bay.
Năm 1892 – Ruđôn Điezen chế tạo ra động cơ mà ngày nay vẫn mang tên ông. Động cơ dùng nhiên liệu điêzen và có tên gọi là động cơ điêzen.
Hải Yến – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Thiên niên kỷ mới

Du lịch Việt Nam bước vào thiên niên kỷ mới, chương trình hành động quốc gia về Du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000 đã đạt được những kết quả quan trọng: tạo bước chuyển biến và nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp và toàn bộ xã hội về vị trí, vai trò và hiệu quả nhiều mặt của du lịch đã thu hút được sự chú ý của toàn xã hội. Hình ảnh Việt Nam nói chung và du lịch Việt Nam nói riêng được nâng cao trên trường quốc tế, tạo thế và lực cho cho du lịch Việt Nam bước vào đầu thế kỷ 21, đưa Việt Nam trở thành điểm du lịch hấp dẫn của khu vực và thế giới.
Bên cạnh những kết quả khả quan đã đạt được, ngành Du lịch đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn: So với các nước trong khu vực, Du lịch Việt Nam còn đang ở vị trí khiêm tốn, con số trên 2 triệu du khách quốc tế đến Việt Nam năm 2000 mới chỉ đưa nước ta xấp xỉ bằng Philippines và bằng 1/4 của Thái Lan hoặc Singapore về lượng khách quốc tế. Nhìn chung, chất lượng sản phẩm du lịch của nước ta chưa có, loại hình sản phẩm du lịch chưa phong phú, độc đáo. Việc nghiên cứu thị trường, đẩy mạnh xúc tiến du lịch còn nhiều hạn chế, đầu tư ngân sách nhà nước cho phát triển du lịch còn hạn hẹp.
Du lịch được đánh giá là một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, có khả năng phát triển nhanh, có thể sớm rút ngắn được khoảng cách so với các nước trong khu vực, đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Trong Dự thảo Báo cáo Chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010 trình Đại hội Ĩ của Đảng đã xác định Du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, cần được phát triển mạnh với quy mô tốc độ và hiệu quả lớn hơn. Sắp tới nếu được tập trung đầu tư tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực đồng thời kịp thời tháo gỡ những vướng mắc khó khăn , trở ngại về cơ sở chính sách thì chắc chắn ngành du lịch sẽ có bước phát triển cao hơn, đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp Đổi mới của đất nước. Trước mắt, với mục tiêu phấn đấu đón 3,5 triệu – 4,0 triệu khách quốc tế vào năm 2005; 7 – 8 triệu khách quốc tế vào năm 2010, thì riêng ngành du lịch sẽ đem lại nguồn thu khoảng 2,5 – 3 tỷ USD vào năm 2010.
Như vậy, cần thiết và có thể đưa ngành du lịch nước ta tiến nhanh, sớm đuổi kịp các nước có nền du lịch phát triển tiên tiến trong khu vực, thực hiện nhiệm vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra: “ Đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch thương mại – dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực”. Đây là mục tiêu mà toàn ngành du lịch đang quyết tâm phấn đấu thực hiện trong những năm đầu của thể kỷ mới, thiên niên kỷ mới.
Sau chuyến đi Tây
Tác phẩm nổi tiếng ra đời sau chuyến đi Tây… Phạm Phú Thứ sinh năm 1821 nhưng không phải tuổi Tân Tỵ, vì tính theo âm lịch thì đó là ngày 26 tháng Chạp năm Canh Thìn, nghĩa là sau một tuần mới đến mùng Một Tết Tân Tỵ.
Phạm Phú Thứ lúc nhỏ tên là Hào (hào kiệt), đi học lấy tên là Thứ (rộng lượng), khi đỗ đại khoa vua đổi là Thứ (đông đúc), do đó có tên chữ là Giáo Chi (dạy họ( lại lấy danh hiệu là Trúc Đường (nhà tre), biệt hiệu Giá Viên (vườn mía) và hai biệt hiệu khác ít dùng là Thúc Minh (Nhật cái trong sáng), Trúc Ẩn (núp trong tre). Ông thi đỗ tiến sĩ năm 22 tuổi, làm quan tới chức Thượng thư Bộ Hộ, sung Thương chính đại thần.
Giữa năm 1863 ông được cử làm phó sứ, cùng chánh Sứ Phan Thanh Giản và Bồi Sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp và Tây Ban Nha với danh nghĩa ngoại giao kỳ thực là đàm phán đòi 3 tỉnh Nam Kỳ. Chuyến công tác kéo dài tận tháng 3 năm sau (1864) mới quay về nước. Về đến kinh, ông dâng vua bản tây hành nhật ký (nhật ký đi Tây), ghi chép tỉ mỉ những điều mắt thấy tai nghe và cảm nghĩ về nền văn minh cơ khí Phương tây nhằm thuyết phục triều đình mạnh dạn mở cửa thông thương với nước ngoài, đưa đất nước tiến lên cường thịnh. Ngoài ra ông còn dâng vua nhiều tấu mang nội dung cải cách giáo dục kinh tế, quốc phòng, nội chính đối ngoại. Ông còn cho mở một trường học tiếng Pháp ngữ đầu tiên ở nước ta.
Trần Tuyên – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Nỗi khổ của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp

Theo chính sách nam đến tuổi 60, nữ 55 thì đủ tuổi về hưu, áp dụng cho tất cả các cán bộ công chức Nhà nước. Quy định này hợp lý cho hầu hết các ngành nghề. Tuy nhiên, đó lại là bài toán khó đối với các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp trong quá trình trẻ hóa đội ngũ diễn viên.
Với chính sách trên, hầu hết các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp đều gặp khó khăn trong quá trình trẻ hóa đội ngũ diễn viên. Nhất là khi, nhu cầu này đang ngày càng cấp bách. Khi Nhà nước còn chưa có sự chuyển đổi cơ chế, mọi khó khăn chưa nảy sinh. Từ khi các đoàn nghệ thuật phải tự hạch toán kinh phí, tự lo ổn định đời sống cho các diễn viên thì khó khăn đã trở thành thử thách. Bên cạnh đó, thị hiếu của khán giả ngày càng cao, cộng với sự cạnh tranh gay gắt giữa các đoàn nhằm chiếm được cảm tình của đông đảo khán giả, đòi hỏi các đoàn phải bắt kịp với nhu cầu của cuộc sống, đồng thời vẫn giữ được định hướng nghệ thuật của từng đoàn. Vì thế, nhân tố làm nên bước tiến mới là đội ngũ diễn viên và yếu tố diễn viên trẻ đẹp, có tài năng thật sự vô cùng cần thiết. Bởi vì, người diễn viên giống như những cây cầu đưa khán giả đến với nghệ thuật, đến với món ăn tinh thần không thể thiếu. Song, thực tại, đội ngũ diễn viên ở các đoàn như thế nào?
THỰC TRẠNG CHUNG
Trong số hơn 55 thành viên thì chỉ có khoảng 30 thành viên của Đoàn Chèo Hà Nội đi diễn thường xuyên. Người không diễn vẫn hưởng lương theo biên chế. Đó là bất cập lớn. Nguyên nhân là vì độ tuổi 35 trở đi, sức bật diễn xuất của diễn viên giảm sút, không hiệu quả. Đơn thuần, với những nhân vật công chúa, hoàng tử thì tuổi tác đã cản trở, khiến họ không phù hợp để vào vai. Trước đây, một thời nghệ sĩ ưu tú Quốc Chim, Lâm Bằng, Xuân Hanh, Thu Hiền, Lan Anh, Minh Nguyệt đã để lại cho khán giả những ấn tượng sâu sắc trong vai nàng Si-ta, hoàng tử Phơ-Liêm nhưng hiện giờ, họ đều đã ở tuổi ngũ tuần, những vai diễn trẻ không còn tương xứng, cộng với trường độ giọng ca không còn khỏe như trước. Tất nhiên, một vài anh chị vẫn giữ được phong độ nhưng đó là con số hãn hữu. Các vai diễn đào, kép thì không đúng với tài năng của họ. Chính vì vậy, trong những buổi diễn vẫn có người diễn và có người không.
Đoàn dân ca Quan họ có 26 thành viên, đội ngũ trẻ chỉ chiếm 2-3 người. Vào những năm 85, hầu hết những diễn viên tham gia trong các Hội diễn ca múa nhạc toàn quốc, Hội thi các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, Liên hoan kịch hát toàn quốc như Quý Tráng, Hồng Mạnh, Lan Hương, Thúy Cải… đã được nhiều giải cao. Nhưng những năm gần đây nổi bật lên chỉ là một vài diễn viên trẻ như Thúy Hường, Quang Vinh. Với đặc trưng âm điệu vang, rền, nền, nảy, những bài hát dân ca Quan họ đòi hỏi người nghệ sĩ phải có hơi dài và khỏe. Chính vì vậy, diễn viên trẻ thường có điều kiện thành công hơn các lớp người “có tuổi”, dù đó là những người đã từng là tấm gương của họ.
Điều đáng quan tâm nhất của Đoàn là đội ngũ kế cận trong tương lai. Nhưng còn nếu để những anh chị có khả năng biểu diễn thấp nghỉ thì họ vẫn chưa đủ tuổi về hưu. Nếu cho họ tự nguyện xin nghỉ thì rất khó, vì ai cũng sợ mất quyền lợi. Bên cạnh đó, người nghệ sĩ không thể nằm trong tình trạng “vắt chanh bỏ vỏ”. Trong khi đó, số lượng biên chế còn hạn định đòi hỏi diễn viên mới vào thì phải có người ra. Nếu không, nhận các em vào theo hợp đồng để giải quyết khó khăn trước mắt thì Đoàn phải tự bỏ ra kinh phí trong vòng 2-3 năm. Thời gian quá dài, 1 năm khiến cho Đoàn chậm tiến triển, mặt khác khiến các em thấp thỏm chưa yên tâm làm việc, dẫn tới chất lượng biểu diễn không cao.
Các đoàn ca múa nhạc cũng nằm trong tình trạng này. Diễn viên múa đạt trình độ nghệ thuật cao ở độ tuổi 26. Độ tuổi này, người diễn viên có sức dẻo dai nhất, sức khỏe cũng như tuổi trẻ giúp họ thành công nhất. Diễn viên Thu Thảo, 30 tuổi (Đoàn ca múa Hải Quân) đã khẳng định: “Những năm tháng biểu diễn ở mọi miền Tổ quốc, mình nhận thấy tuổi trẻ và sức múa luôn đồng hành, ở tuổi 30 trở đi, sức múa của mình đã xuống…”. Vì thế, nếu Nhà nước vẫn duy trì chính sách chung cho các Đoàn nghệ thuật thì quá trình trẻ hóa rất yếu khó khăn cùng với nhiều bất cập nảy sinh. Các đoàn sẽ giải quyết như thế nào với một loạt người đang nhàn rỗi? Tuy nhiên, ở tuổi 40 chưa đủ để về hưu nhưng ở lại thì hiệu quả diễn của họ không cao. Đồng thời, nghệ thuật sẽ mai một nếu không có những lớp người kế thừa và phát huy. Để giải quyết những bất cập này, đòi hỏi cần phải có chính sách cho phù hợp.
CÓ NÊN CHUNG “KHUÔN”
Quá trình hoạt động của các diễn viên trong những đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp có tính đặc thù, bởi sự đào thải khắt khe. Một diễn viên múa, một ca sĩ… không như một kỹ sư hay một nhà khoa học càng có thâm niên trong nghề càng có khả năng cống hiến sức sáng tạo. Trái lại, các diễn viên, nghệ sĩ biểu diễn thường chỉ thật sự thành công trong thời kỳ son sắt của mình. Nói như vậy, không có nghĩa nghệ thuật chỉ chín mùi khi diễn viên còn trẻ mà nghệ thuật thực sự nở rộ ở thời điểm đó. Trao đổi với ông Trần Đình Luyện, Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Ninh, ông đã nói rất cởi mở: “Các đoàn khó khăn thì Nhà nước cũng có khó khăn. Tuy nhiên, quá trình phân định chính sách về hưu sao cho phù hợp với quá trình hoạt động của các đoàn nghệ thuật nói riêng và lĩnh vực Văn hóa nói chung là thiết thực”. Nhìn chung, để tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn phát triển đồng nghĩa với việc phát huy tốt vai trò xây dựng nền văn hóa nước nhà, thì sự quan tâm cụ thể của Nhà nước đến nhu cầu trẻ hóa, đến những quyền lợi chính đáng của người về hưu là rất quan trọng.
Hoàng Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Phải chăng hài kịch lên ngôi

Trong cuộc sống công nghiệp hối hả chúng ta như bị công việc ngốn hết thời gian nên ít có dịp tìm đến các sàn diễn sân khấu để thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật. Đại bộ phận khán giả bây giờ có nhu cầu được xem những tác phẩm nghệ thuật có dung lượng vừa phải, đan xen trong đó là yếu tố hài để đầu óc để căng thẳng sau những giờ làm việc bận bịu. Bởi vậy, sân khấu Việt nam gần đây thiên dần về xu hướng này. Đôi khi có những vở kịch chính kịch, bi kịch hẳn hoi nhưng người ta vẫn có thể cười, bởi những chi tiết hóm hỉnh được tác giả khéo “cài” vào. Chỉ tính riêng nhà hát Tuổi trẻ, 2 năm 1999 và năm 2000 đã xây dựng 6 chương trình hài(Đời cười, Ngẫm mà cười…). Đạt doanh thu 4 tỷ/ năm (gấp khoảng 5 -6 lần năm trước). Chính điều này khiến nhiều người nghĩ rằng “hài kịch lên ngôi”.
Anh Văn Sử – Trưởng phòng Nghệ thuật, Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa – Thông tin) cho biết: “Nếu cho là là thời gian gần đây, hài kịch lên ngôi là không đúng. Bởi lẽ nhiều vở kịch có chất hài và những tiểu phẩm vui nho nhỏ được các nhà hát, các đoàn nghệ thuật dàn dựng. Thế nhưng đó hoàn toàn không phải là hài kịch…” Qua tìm hiểu tại một số đoàn nghệ thuật, được biết: Đôi khi họ cũng cũng phải “cù cừơi” khan giả, nếu không thì… chẳng có ma nào đến xem. Tỏ quan điểm về vấn đề này, anh Sử cho biết thêm: “Đúng, có một số nhà hát, một số đoàn nghệ thuật cố tình cù cười khán giả nhằm mục đích thương mại, câu khách. Thế nhưng đó chỉ là “giải pháp tình thế của mình”. Một vị lãnh đạo đoàn nghệ thuật nọ bộc bạch: “Trong thời buổi sân khấu vắng khách, một vở kịch nếu được coi là nghệ thuật thì dàn dựng rất tốn kém. Vậy mà không bán được vé thì chỉ có nước… “chết”!. Còn một yếu tố cũng không kém phần quan trọng đó là những vở kịch hoành tráng, đem về vùng sâu, vùng xa không được thân thiện vì vận chuyển sân khấu, phông màn, chiếu sáng… cồng kềnh. Trong khi tiểu phẩm hài xé nhỏ được nhân sự, gọn nhẹ khâu vận chuyển nên có thể “đánh nhanh, rút gọn”.
Quả đúng vậy, đó chỉ nên là “cái tạm thời”, bởi sân khấu muốn tồn tại được không phải dựa vờ những tiểu phẩm vui, những vở kịch ngắn “đầy chất nhộn”, mà phải có những tác phẩm hoành tráng theo đúng nghĩa của nó. Những quan tâm đến nền sân khấu nước nhà chắc hẳn cũng điều nghĩ như vậy. Anh Trương Nhuận – Trưởng phòng biểu diễn, Nhà hát tuổi trẻ cho hay” Mặc dù năm 1999 và năm 2000, đã dàn dựng được nhiều tiểu phẩm vui, dí dỏm, được khán giả thủ đô ưa thích, nhưng sang năm nay, chúng tôi có xu hướng quay về chính kịch”. Giải thích vì sao đang rất ăn khách ở mảng “hài kịch” lại chuyển sang chính kịch, anh cho rằng: “Cái gì ăn mãi cũng chán, nếu diễn mãi mảng hài thì sẽ có nguy cơ… “lệch”. Vả lại, đó chỉ là “chiều” theo thị hiếu khán giả thôi. Tới đây chúng tôi sẽ xây dựng những vở diễn có quy mô hoành tráng.
Vậy là hài kịch mà lâu nay nhiều người vẫn lầm tưởng là đang “lên ngôi” thì thực chất lại là những ngón tiểu xảo của các nhà hát “nhạy bén” với thời “cù” vào nách khán giả, nhằm giúp đơn vị họ tồn tại. Dẫu vậy thì chúng ta cũng hy vọng rằng đó chỉ là phương án tạm thời để giải quyết tình thế trước mắt mà thôi.
Ý nghĩa hình tượng rồng trên kiến trúc đền, chùa lăng tẩm Việt Nam
Trong chuyên mục sổ tay hướng dẫn viên du lịch kỳ này, Báo du lịch xin giới thiệu cùng các bạn đọc ý nghĩa của một trong những con vật thường có trên các công trình kiến trúc đền, chùa, lăng tẩm… Việt Nam. Hình tượng con rồng (Long)
Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lâu đời trong lịch sử. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo của giới nghệ thuật siêu tự nhiên. Cùng với sự phát triển của lịch sử, từ lâu các nước phương đông đã hình thành nên quan niệm phổ biến về con rồng, tổng hợp trong những con vật linh thiêng này là trí tuệ, lý tưởng, nguyện vọng, sức mạnh v.v… Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở các nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội của mỗi nước.
Đối với dân tộc Việt Nam, ngoài nét chung nói trên, rồng còn có ý nghĩa riêng, đó là nó chỉ dân tộc Việt Nam có xuất xứ từ con cháu rồng tiên. Từ câu chuyện huyền thoại Lạc Long Quân những biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh,chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tươi tốt. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, chính vì vậy mà các vua chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy lực triều đình. Thời Lê rồng trở thành bản mệnh của nhà vua. Hình tượng rồng được thêu lên tấm áo vua mặc.
Thời kỳ đất nước bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống v.v…và được cách điệu hóa dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Vào thế kỷ thứ XI, dưới triều Lý, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu được xác lập. Con rồng thật sự của Việt Nam đã được ra đời. Cho đến nay, rồng vẫn được sử dụng trong kiến trúc tôn giáo theo một số nét: Mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trang lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn mỗi người Việt Nam
Minh Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Biết chút ít ngoại ngữ vẫn hơn

Trước đây, có chuyện vui về việc cán bộ của mình học tiếng nước ngoài lại cứ tưởng chỉ cần thêm chữ “lơ” vào trước tiếng Việt là thành tiếng Pháp nên giữa thủ đô Paris tráng lệ, tới nhà hàng, anh ta cứ “lơ cơm”, “lơ canh”… mà gọi. May gặp được “lơ bồi” là Việt kiều nên “hiểu” được, nếu không, chắc bữa đó đói. Chuyện đã cũ, nhưng giá trị giáo dục còn nguyên đến tận bây giờ.
Chính tôi cũng từng chứng kiến cảnh cười ra nước mắt. Ấy là một lần sang Trung Quốc, cả đoàn mười mấy người mà chỉ có một cô hướng dẫn viên. Tới Quảng Châu, cũng là chặn cuối của hành trình được ấn định dành thời gian cho du khách mua sắm đồ. Hướng dẫn viên như con thoi đan qua, đan lại giữa các đám khách đang tản mát ở mấy siêu thị trung tâm. Việc giao dịch, mua sắm đơn giản thì bấm vào chiếc máy tính cầm tay, còn mua đồ đắt tiền thì chờ cô hướng dẫn viên tới để mặc cả. Trên là trời, dưới là hang, thôi thì mặc sức bới, chọn. Thời gian chẳng có nhiều, ai nấy đều bận rộn, căng thẳng cho việc mua sắm. Cho nên cả đoàn quyết định tùy nghi di tản để mua theo ý thích – sau đó đúng giờ G tập trung trước cửa. Tôi còn đang phân vân không biết có nên mua thêm chiếc quần Jean mang về làm quà cho bà xã hay thôi, chợt giật mình vì bị anh bạn giật vai hỏi: “Này, toilet chỗ nào nhỉ?”, “Nặng hay nhẹ?”, “Nhẹ!”. Tôi chỉ bừa về phía cầu thang lên xuống! Ít phút sau, lại vẫn anh bạn ấy trông điệu bộ rất khẩn trương, “Thế giải quyết chưa?” – Tôi hỏi. Anh nhăn nhó lắc đầu, nói trong hơi thở gấp gáp: “Tệ thật, bên này thật khó kiếm ra nhà vệ sinh, họ không dùng ký hiệu như bên mình, trong khi tiếng Tàu lại một chữ bẻ đôi không biết”. Xong, anh lại lao đi. Tôi nhìn theo thật ái ngại, tự hỏi nếu vẫn không tìm thấy chỗ cần “giải quyết” thì chuyện gì sẽ xảy ra?
Xách chiếc túi, tôi lững thững đi ra cửa. Lúc này bên ngoài trời nắng chang chang, người Trung Quốc chờ xe buýt hoặc tránh nắng dạt hết vào mái hiên hay bóng mát của cây xanh. Bỗng tôi giật mình thấy anh bạn tôi mặt mũi đỏ gay, mồ hôi chảy ròng ròng vì nắng đang đứng giữa trời. Lạ cái, anh có vẻ rất ung dung, mồm ngậm điếu thuốc, rung đùi liên tục. “Thằng cha này hết bệnh sợ nắng từ hồi nào vậy?” – Tôi tự hỏi. Thì ra không phải anh thích tắm nắng mà đang… phơi quần. Nghe chuyện anh kể lại thấy thật tội. Khi ở trong siêu thị, anh bạn tôi bí quá đâm liều, đâu cũng xộc vào: Ki ốt khép kín, kho chứa hàng, văn phòng làm việc… Cuối cùng anh cũng tìm ra cái nơi cần giải quyết. Chết nỗi chỉ tìm thấy nơi dành cho phụ nữ. Thôi, kệ! Lúc ấy anh chẳng thể giữ được nữa rồi, may cũng không có ai. Nhẹ cả người, tội cái quá muộn nên… ướt mất bên ống quần, chẳng dám mua sắm nữa mà phải ra ngoài để phơi nắng.
Từ câu chuyện thực tế, chúng ta thấy rằng, trong hành trang du lịch, ngoại ngữ là một trong những hành trang quan trọng nhất. Thứ khác có thể mua bổ sung ngay tại chỗ nhưng ngoại ngữ phải cần có thời gian. Đã đành không ai bỏ vài tháng trời học từ ABC tới nói thông, viết thạo để đi du lịch, nhưng nên chăng, các Công ty lữ hành quốc tế trước khi đưa đoàn đi du lịch nên chuẩn bị sẵn “cẩm nang”, dù chỉ là một trang giấy với hơn chục câu, từ ngữ thông dụng của nước bạn. Tuy học “vẹt”, nói “bồi” nhưng vẫn còn hơn không.
Thúy Bình – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Lễ hội Phồn Xương – Yên Thế

Về với lễ hội Phồn Xương – Yên Thế năm nay, ai cũng cho rằng không khí lễ hội tưng bừng, nhộn nhịp hơn mọi năm.
Thật vậy, từ sáng sớm, hàng vạn người trong vùng, ở các tỉnh, thành đã về với lễ hội, với địa bàn hoạt động của nghĩa quân anh hùng áo vải Hoàng Hoa Thám. Trong tiếng trống hào hùng vang dội, dòng người như hà cùng âm hưởng hào khí của một thời lịch sử. Ngọn lửa truyền thống như đỏ rực minh chứng cho tinh thần bất khuất, sức mạnh dũng mãnh của nghĩa quân Yên Thế, minh chứng cho niềm tự hào về truyền thống đánh giặc của nhân dân Yên Thế.
Các hoạt động văn hóa, thể thao như: Lửa trại truyền thống, chọi gà, cờ tướng, cờ người, bắn cung, nỏ, thi đấu bóng đá diễn ra. Đặc biệt giải võ, vật thu hút các võ sĩ các đô vật của nhiều tỉnh về đua tài đọ sức với các chàng trai Cầu Vồng.
Lễ hội Phồn Xương, Yên Thế biểu trưng cho khí phách của một dân tộc anh hùng, khơi dậy tinh thần giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc ta, những phong tục tập quán tốt đẹp của cha ông ta mà ngày xưa chính vị thủ lĩnh Đề Thám đã khẳng định trước thực dân Pháp: “Chúng tôi gắn bó với phong tục của đất nước chúng tôi, chúng tôi không bao giờ từ bỏ phong tục ấy, dù có phải huy sinh đến cả tính mạng”.
Quảng Nam: Mở hội nghị bàn biện pháp thúc đẩy tuyên truyền quảng bá ngành du lịch.
Sáng ngày 21/3/2001, tại thị xã Hội An, UBND tỉnh Quảng Nam phối hợp với hãng hàng không quốc gia Việt Nam tổ chức hội nghị bàn biện pháp thúc đẩy tuyên truyền, quảng bá cho du lịch Quảng Nam và miền Trung. Đại diện ngành du lịch và các doanh nghiệp du lịch tiêu biểu của các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế tham dự. Theo đó, Hãng hàn không quốc gia Việt Nam sẽ là nhà tài trợ chính để tổ chức cuộc gặp gỡ của đại diện 150 hãng lữ hành quốc tế và 50 nhà báo quốc tế tại Hội An nhân đêm phố cổ Rằm tháng 7 âm lịch (tức ngày 1/9/2001). Đoàn còn tham gia một số hoạt động của Đêm phố cổ, tham quan các di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn, Cố Đô Huế, xem biểu diễn ca nhạc truyền thống của các dân tộc chăm, ca nhạc cung đình Huế… qua đó, giới thiệu với các hãng lữ hành, các nhà báo quốc tế về hinhg ảnh của du lịch Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế… và đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền quảng bá du lịch miền Trung ra nước ngoài, thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đến vùng này.
Triển lãm ảnh “Vương quốc Anh – Ánh sáng – Cuộc sống – Tình yêu”
Từ ngày 26/3/2001, văn phòng Hội đồng Anh tại Hà Nội sẽ tổ chức triển lãm ảnh với tiêu đề “Vương quốc Anh – Ánh sáng – Cuộc sống – Tình yêu”, qua ống kính của ba nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam: Nguyễn Vinh Quang, Phạm Tiến Dũng và Vũ Đức Tân. Triển lãm gồm 40 tác phẩm, phản ánh những giây phút nghỉ ngơi giải trí trong đời sống của người dân tại các thành phố London, Oxford, Bath và Cambridge của Vương quốc Anh. Đó là những buổi chiều thư giãn trong công viên bên bạn bè, các cuộc dạo chơi cùng gia đình, không khí nhộn nhịp trên đường phố…
Trienr lãm kéo dài 4 tuần tại 40 phố Cát Linh, Hà Nội.
Khu du lịch Bà Nà hấ dẫn doanh nghiệp
Khu du lịch Bà Nà (thành phố Đà Nẵng) ngày càng thu hút khách du lịch. Đến nay đã có nhiều doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân đăng ký mua đất để xây dựng các cơ sở kinh doanh. Dịch vụ khách sạn, nhà nghỉ của cư Công ty Du lịch – Dịch vụ Đà Nẵng, ác doanh nghiệp này đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu càu lưu trú, sinh hoạt của du khách.
Cười một tý
Một đấu vàng… Ngày xửa ngày xưa có mọt hôn dung Hoàng đế, oogn ta cho tuyên bố trước toàn quốc: “Nếu ai có thể một câu chuyện hết sức hoang đường, khiến trẫm phải nói đó là nói bậy, thì trẫm sẽ chia cho một nữa giang sơn của trẫm”.
Có một nông dan thông minh, nách kẹp một cái đấu đi vào hoàng cung.
Hoàng đế hỏi ông: “Nhà ngươi mang đấu đến để làm gì?”
Người nông dan nói: “Bệ hạ nợ tôi một cái đấu vàng, nay tôi đến bệ hạ để đòi số vàng ấy.”
Hoàng đế nghe vậy thì giật mình, nói: “Một đấu vàng? Nó bậy! Ta nợ một đấu vàng bao giờ?”
Người nông dân nói: “Tất nhiên là nói bậy, vậy xin bệ hạ chia một nữa giang sơn cho tôi vậy.”
Hoàng đế nghe nói vậy, mới hiểu ra là người nông dân này đã có dụng ý như vậy, liền nói chệch đi là, đó không phải là nói bậy. Lúc đó, người nông dân nói nghiêm túc: “Nếu không phải là nói bậy, thì xin bệ hạ phải trả tôi một đấu vàng đi!”
Không còn cách nào khác, Hoàng đế không thể chia nữa giang sơn cho người nông dân, nên đnàh phải cắn răng trả cho người nông dân một đấu vàng.
Ở phòng nào.
3 giờ sáng. Điện thoại phòng khách sạn đổ hồi. Một giọng giận dữ vang lên:
Này, ông phải làm sáo để con mụ chửi chồng ở lầu 4 im lặng chứ?
Vâng! Chúng tôi sẽ cố. Nhưng bà ta ở phòng nào ạ?
Chung phòng với tôi
Hoàng Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Chùa Túy Vân – Một danh thắng bị bỏ quên.

Chùa Thúy Vân tọa lạc trên trên một hòn núi nhỏ cùng tên nằm cạnh cửa Tư Hiền, được chúa Nguyễn Phúc Tần cho xây dựng vào thế kỷ thứ XVII, lúc đó có tên là Mỹ Am Sơn. Năm 1826, vua minh mạng cho xây dựng lại và đổi tên là chùa Túy Ba. Năm Minh Mạng thứ 17 (1837) chùa được trùng tu và dựng thêm lầu. năm 1841, vua Thiệu Trị cho trùng tu và đổi tên là Túy Vân là danh thắng được người xưa đánh giá rất cao: “Linh Thai, Túy Vân hệ thị quốc gia chi thắng cảnh” (Linh Thia, Túy Vân đều là thắng cảnh của quốc gia). Với bề dày lịch sử và phong cảnh thiên nhiên thơ mộng, chùa Túy Vân xứng đáng là một thắng cảnh của chồn Thần Kinh, là tài nguyên vô tận của ngành du lịch Thừa Thiên – Huế. ấy thế mà khi ai đã có dịp trở lại thăm chùa lại không khỏi bùi ngùi nuối tiếc cho một thắng cảnh và cũng là nơi cầu phúc đã bị phá hội bởi thời gian và những con người vô ý thức đến độ không tả nổi. Chùa chĩnh nằm ở lưng chừng núi, mái núi bị sụp đổ sơ xác, phần gỗ bị hư hỏng nặng, rất nguy hiểm. Trên đỉnh núi 3 ngôi tháp 3 tầng có tên là Điếu Ngư phải chịu làm bia cho những lữ khách muốn để lại dấu ấn của mình bằng cách viết, vẽ lên án thờ phật tổ. Con đường từ chân núi lên đến tháp Điếu Ngư có đủ các loại túi nilon rải khắp hai bên.
Tôi ra về lòng buồn khôn tả, tiếc cho một danh thắng bị bỏ quên. Không hiểu chính quyền địa phương, sở Văn hóa – Thông tin, Sở du lịch Thừa Thiên Huế đã nghĩ gì khi tồn tại thực trạng như hiện nay. Đã đến lúc ngành chức năng cần giải pháp tích cực để chùa Túy Vân vẫn mãi xứng đáng là danh thắng nổi tiếng, làm đẹp thêm nét văn hóa độc đáo của chốn Thần Kinh, góp phần vào sự phát triển của ngành du lịch Thừa Thiên Huế.
Quảng Nam: Phấn đấu đạt 50 tỷ đồng về du lịch.
Năm 200 Quảng Nam đón 243.000 khách tham quan trong đó có 122.649 lượt khách lưu trú, tăng 32,2% so với năm 1999. doanh thu chuyên ngành đạt 43,5 tỷ đồng, tăng 55% so với cùng kỳ năm trước
Từ kết quả đó, năm 2001 Du khách Quảng Nam phấn đấu đón hơn 300.000 khách tham quan và 140.000 khách luu trú doanh thu chuyên ngành đạt 50 tỷ đồng, trong đó khách du lịch quốc tế 105.000 lượt tăng 10,5% so với năm 2000. để đạt được mục tiêu của ngành Du lịch Quảng Nam có kế hoạch đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá, xây dựng các tuyến điểm du lịch mới, khôi phục các làng nghề truyền thống như làng mộc Kim Bồng, chiếu Bàn Thạch; Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, hoàn thiết các khu du lịch biển Cửa Đại, Victoria Beach Resort… Trước mắt đầu tư phát triển khu du lịch hồ Phú Ninh và bãi tắm Tam Thanh nhằm thu hút lượng khách đến ngày càng đông hơn. Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã ban hành một số chính sách ưu đãi, đầu tư để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực du lịch.
Nhận dạng các loại tiền giả trên thị trường.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam cho biết, hiện nay trên thị trường đang xuất hiện một số loại tiền giả (chủ yếu là loại tiền 20.000 và 50.000đ) có kỹ thuật in tương đối tin vi, thoạt nhìn rất giống tiền thật. Sau đây là một số đặc điểm nhận dạng các loại tiền này.
Tiền giả được sản xuất bằng giấy có màu gần giống như giấy in tiền thật. hình bong chiềm chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh ở bên trái (mặt trước, phần để trống trắng) được vẽ (hoặc in) bằng loại hoá chất màu sáng vào phần giữa hai lớp giấy hoặc in trên lớp giấy hoăc in trên giấy Pôlyme rồi đặt giữa hai lớp giấy, khi đua lên soi trước nguồn sáng thấy lờ mờ không rõ nét.
Được in bằng phương pháp in offset nên hình ảnh chung của loại tiền này bị mờ nhạt và không có độ nổi cao của mực in. Khu vực chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh (ở bên phải, mặt trước của tờ tiền) không chỉ thể hiện đầy đủ các chi tiết , mất rất nhiều nét nhất ở vùng râu, tóc và trán làm cho ảnh Bác Hồ bị mờ nhạt, thiếu nét hoặc không rõ nét như tiền thật.
Mặt trước: cụm số, chữ và hàng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở tiền giả không có gờ nổi. trong khi đó, ở tiền thật cụm số và chữ nổi nên có thể cảm nhận được khi vuốt nhẹ bằng tay ở các cụm chữ số.
Ở tiền giả, khu vực quốc huy, mặt trước các nét in nhỏ, mảnh bị dính, chập không cách đều nhau, nhất là vùng chân đế Quốc huy như ở tiền thật.
Hồ Phước Khánh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176) 2001